Giới thiệu hội điện ảnh
Tọa đàm đầu tư
Tin tức
Âm nhạc và điện ảnh
Hội điện ảnh Việt Nam » Lịch sử điện ảnh Việt Nam » Điện ảnh cách mạng việt Nam giai đoạn 1954 -1975
send to a Friend Print this page
Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đập tan ách áp bức đế quốc phong kiến mang lại tự do cho nhân dân Việt Nam. Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập. Ngay từ những ngày đó, mặc dù nền kinh tế đã hoàn toàn kiệt quệ vì chính sách vơ vét quá tàn boạ của phát xít Nhật và thực dân Pháp đã thực hiện trong thời gian chúng thống trị, Chính phủ cách mạng lâm thời vẫn tổ chức một bộ phận “Điện ảnh – Nhiếp ảnh” trong Bộ Thông tin Tuyên Truyền.
Theo đồng chí Phan Nghiêm- một trong những người đầu tiên tham gia xây dựng bộ phận điện ảnh – khi đó điệnả ảnh ta chi có một máy quay phim 35mm chạy cót gọi là máy “ciné –sept” (mỗi lần lắp phim vào ca-xét chỉ được 7 mét phim). Máy có thể dụng vừa để quay phim, vừa để baám từng hình như máy chụp ảnh. Với trang bị quá nghèo nàn như vậy, điện ảnh chưa thể hoạt động có kết quả, chưa thể tự mình ghi lại những cảnh lịch sử trong ngày 2-9 1945 khi Hồ Chủ Tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc Lập tại Quảng trường Ba Đình. Vì vậy, sau này khi cùng điện ảnh Trung Quốc làm phim tài liệu Việt Nam kháng chiến (1951) các nhà điện anhr phim sử dụng những bức ảnh chụp tại Quảng Trường Ba Đình ngày 2-9-1945 kết hợp với nhnưgx đoạn phim quay lại hình ảnh Hồ Chủ tịch (quay trên chiến khu Việt Bắc) để thể hiện lại không khí của những giờ phút khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà. Những cảnh thực sự ghi được bằng máy quay phim phải đợi đến năm 1974, khi đoàn làm phim tài liệu Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sang quay phim ở Pháp, ta mới có được nhờ một nhà điện ảnh ở nước ngoài – không nói tên – quay được gửi tặng đoàn quay phim của ta.
Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á không những chỉ mang ý nghĩa lịch sử vô cùng lớn lao đối với nhân dân Việt Nam mà còn thu hút được sự khâm phục, yêu mến, kính trọng đối với nhân dân các nước trên thế giới. Những thước phim vô cùng quý giá của nhà điện ảnh vô danh ở nước ngoài ghi được hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 và gửi tặng ta một cách hào hiệp năm 1974 đủ nói lên điều đó. Bên cạnh sự kiện đó, một việc cần ghi lại là sự hình thành của nhóm điện ảnh “Sao Vàng” do kiều bào của ta ở Pháp tổ chức. Những người dân Việt Nam trước đây, vì những lý do khác nhau, phải sống trên đất Pháp với những điều kiện của người mất nước, nay được thấy những hình ảnh thật thiêng liêng những cũng rất cụ thể của Tổ quốc: cờ đỏ sao vàng, bài quốc ca Việt Nam, biểu cho lòng yêu nước Việt Nam, đã tìm mọi cách bày tỏ những xúc cảm sâu sắc của mình qua những thước phim của nhớm “Sao Vàng” quay được trong thời gian này và dựng lại thành những phim : Hồ chủ tịch tại Pháp, Hôi Nghị Phông-te-nơ-blô, sinh hoạt của 25.000 Việt Kiều tại Pháp (hoặc phíai đoàn Phạm văn Đồng tại Pháp). Giá trị tư liệu quý giá của những thước phim trên là ở chỗ nó ghi lại được bầu không khí vô cùng chân thực của cả một cộng đồng lớn lao người Việt trên đất Pháp lúc đó, những tình cảm yêu nước mang tính điển hình cao của những người dân Việt dù sống xa Tổ Quốc rất lâu vẫn luôn hướng về quê hương, và đônga bảo mình trong nước với tình cảm nồng cháy. Những cảnh quay cờ đỏ sao vàng tung bay trên đất PHáp chứng tỏ mgưpừo cầm máy hoà mình với “hồn Tổ quốc:, tự hào vì đã tự tìm thấy “hình của nước”. Những cảnh quay Hồ Chủ tịch dự các cuộc tiếp đón với đấy đủ nghi lễ dành cho một nguyên thủ quốc gia, những sinh hoạt của Bác tại Pháp (tập võ, dạo chơi, gặp kiều bào..v.v), hình ảnh các vị lãnh đạo nhà nước ta trong cuộc đấu tranh ngoại giao với chính phủ Pháp, chan hoà với kiều bàov.v..Có thể nói là những thước phim quay cả bằng trái tim và khối óc của hàng vạn kiều bào ta sống trên đất Pháp hồi đó. Chính vì vậy, ngày nay xem lại những thước phim sống trênđất Pháp hồi đó. Chính vì vậy, ngày nay xem lại những thước phim này, với những lời thuyết minh, với cách hành văn, với lối sử dụng nhạc mang đậm dấu ấn của những bước chập chững đó (ví dụ: bản nhạc “Con thuyền xa bến” của Lưu Bách Thụ được dùng để mở đầu và kết thúc bộ phim Hội Nghị Phông –te-nơ-blô), ta vẫn thấy một niềm xúc động mạnh mẽ vì đowcj chứng kiến những cảnh mang tình lịch sử vô cùng trọng đại, vô cùng mạnh mẽ vì được chứng kiến những cảnh mang tính lịch sử vô cùng trọng đại, vô cùng chân thật được thể hiện qua những cảm xúc thật chân thành. Hơn nữa, với trình độ phát triển kỹ thuật của thời sau chiến tranh thế giới thứ hai, việc ghi âm còn rất phức tạp. Nhóm “sao vàng” đã có công ghi lại trên 18 vòng quay với máy móc hết sức cồng kềnh, một số đoạn lời Hồ Chí Minh nói tại Pháp. Năm 1974, đoàn làm phim Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã thu lại được. Cho đến nay, đây là những lời Hồ Chủ tịch nói được ghi âm sớm nhất được lưu trữ trên đất nước ta.
Những thước phim trên, ngoài giá trị tư liệu vô giá, còn có tác dụng động viên cổ vũ rất lớn đối với nhân dân ta trong những ngày đầu cách mạng. Theo hồi ký của đồng chí Phan Nghiêm sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, một số đồng chí được cử ra tổ chức moọt đoàn chiếu bóng dùng một to axe lửa đi từ Bắc và Nam để tuyên truyền, cổ động. Vốn liếng của đoàn chủ yếu có “một máy chiếu bóng Đê-bri 16mm và hai bộ phim Phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp”. Máy và phim đều của kiều bào Việt Nam tại Pháp gửi về tặng.
Đoạn hồi ký trên của đồng chí PHan Nghiêm viết : “Chiếc to axe điện ảnh” của chúng tôi được cắt lại ở hầu hết các thị xã, các thị trấn, các ga quan trọng và được móc đi sau khi chúng tôi làm xong nhiệm vụ.
Ở mỗi nơi xe đỗ lại, chúng tôi tổ chức mít tinh giải thích tình hình và chiếu hai bộ phim nói trên. Bãi chiếu thường được chọn ngay cạnh ga, máy đặt trên to axe lửa chiếu xuống. Phim vừa hết, còi tàu vang lên và đoàn tàu kéo chúng tôi đi giữa tiếng vỗ tay lưu luyến của đồng bào.
…Nhiều nơi đồng bào Kinh cũng như Thượng được tin Đoàn chiếu bóng của Chính phủ Trung ương đi qua kéo nhau từng đoàn vượt qua hai, ba chục cây số, chầu chực hàng hai, ba ngày để được thấy hình ảnh Bác Hồ và cờ đỏ sao vàng tung bay trên đất Pháp.
Có những buổi chiếu đông chật ních và bãi rộng hàng năm sáu nghìn người xem. Nhiều nơi, theo yêu cầu của đồng bảo đã phải chiếu đi, chiếu lại hai , ba lần liên tiếp trong một đêm. Nhiều địa điểm đã tổ chức chiếu phim lượt vào , đến khi đoàn ra đồng bào lại yêu cầu cắt toa ở lại chiếu thêm nhiều buồi để được thoả lòng mong thấy Bác.
Từ đầu đến cuối bộ phim, mỗi khi hình ảnh Bác hiện lên, những tràng vỗ tay, reo hò vô cùng sung sướng của đồng bào lại nổi lên như sấm còn át cả tiếng thuyết minh.
Có lẽ hình ảnh Bác Hồ Kính yêu đã đến lần đầu tiên với đồng bào miền Nam, gần gũi, sinh động và vô cùng cảm động trong những buối chiếu bóng lịch sử này…
Bên cạnh hoạt động của đội chiếu bóng đầu tiên đó, cả mạng lưới chiếu bóng tư sản Pháp ở Thủ Đô Hà Nội và một số tỉnh vẫn tiếp tục chiếu những phim ở các nước phương Tây nhập vào có lựa chọn về nội dung, để tài theo sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng. Trong số những phim được chiếu mạng lưới này, có bộ phim Liên Xô Pa-sa bảo vệ tổ quốc do hãng phim “Phim và xi-nê-ma Đông Dương” nhập, gây được ảnh hưởng tốt đối với một số trí thức thanhniên Việt Nam lần đầu tiên được tiếp xúc với nghệ thuật điện ảnh xã hội chủ nghĩa qua bộ phim này.
Trở lại với hoạt động quay phim của bộ phần điện ảnh đầu tiên, một số nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh Việt Nam cho biết, trong thời gian 1945-1946 ta có quy được một số đoạn: Hồ Chí Minh từ Pháp trở về, (1946), Pháp tấn công phố Hàng Than (1946), trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946),v.v… Những sau đó, ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiến sự lan rộng nhanh, những thước phim này chưa kịp in tráng đã bị mất, nên ngày nay không còn cơ sở để đánh giá những đoạn phim đầu tiên này.
Trong khi những người đi đầu tìm mọi cách vượt qua mọi khó khăn để xây dựng nền điện ảnh Việt Nam thì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Cùng với toàn dân, họ vác lên vai cỗ máy chiếu tháo ở rạp ra nhãn hiệu Pa-tê (Pathé) cũ kỹ nặng nề lên chiến khu. Chiếc máy quay “Ciné-sept” cùng một ít phim được đồng chí Phan Nghiêm mang theo đến các trậng địa của tự vệ nội thành Hà Nội, sử dụng nhưgnx máy chụp ảnh, ghi lại những cảnh chiến đấu, in thành những tấm ảnh thông tin tuyên truyền. Cỗ máy chiếu được mệnh danh là “máy chuống gà lỗ sỹ: vơi schiếc máy quay “Ciné-Sept” đso trở thành vốn liếng đầu tiên để xây dựngcơ sở vật chất – kỹ thuật cho điện ảnh trên chiến khu Việt Bắc. Từ đây bắt đầu những cố gắng, tìm tòi để quay những thước phim đầu tiên ở Việt Bắc..
Theo đồng chí Cao Thành Nhơn cho biết, ngày 2-9-1945 ở Sài Gòn có quay phim những vì chiến sự bùng nổ bùng nổ quá sớm nên phim không giữ được. Khu 8 đi đầu trong việc xây dựng ngành điện ảnh. Đầu tiên là một cuộc triển lãm ghi lại những thành tích chiến đấu của Tổ Nhiếp ảnh khu 8. Cùng đồng chí Mai Lộc, dồng chí Khương Mễ trước đây có tham gia các nhóm quay phim ở Sài Gòn hồi 1940-1942 và một số đồng chí từng làm công nhân tráng phim, nhiếp ảnh,v.v… tập hợp lại, phần công nhau vào Sài Gòn mua máy quay, nghiên cứu cách tráng phim. Chiếc máy Kô – Đắc 6mm đầu tiên mua được về không dùng được bao lâu. Sau thời gian quay tập, đồng chí Mai Lộc mang nó đi quy trận phục kích đoàn xe lửa từ Sài Gòn, Mỹ Tho . Đồng chí trúng đạn bị thương, máu và phim rơi xuống hỏng hết. Công việc nghiên cứu in tráng theo lối thủ công vừa đạt kết quả mong muốn thì Pháp lại nhảy dù trúng Tổ điện ảnh, lấy di hết máy móc, thuốc men, phim nhựa, dụng cụ.
Lại phải mua sắm máy quay, tổ chức nơi in tráng phim trên một chiếc thuyền có mui lưu động trong đó đặt phòng tối, dùng nước đá mua từ thành phố về làm lạnh và in tráng phim bằng những guống thủ công.
Trong dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng tám và Quốc khánh 2-9-1945 tiểu đoàn 307 đánh trận Mộc Hoá: phục kích địch từ đồng Mộc Hoá ra đi càn. Mang chiếc máy Pay-a Bô Lếch quay bằng phim trực hình(inversible) – quay xong trang ra thành bản dương ngay – đồng chí Mai Lộc theo bộ đội đi làm phim. Với những cảnh nhân dân mang quà tặng bộ đội hành quân đi đánh giặc, bộ đội ta xung phong, tên đồn trưởng Béc-tơ-răng giơ tay hàng, trại tù binh, máy bay Xpit-phai của địch bay xuống trận địa ta, vv… đồng chí xây dựng được bộ phim Trận Mộc Hoá. Đây là bộ phim tài liệu đầu tiên ở Nam Bộ xây dựng được hoàn toàn do Tổ điện ảnh đảm nhiệm tất cả các khâu từ quay đến in tráng và sau đó có mang chiếu cho đông đảo bộ đội và nhân dân xem.Đồng thời đây cũng là bộ phim đầu tiên của điện ảnh Việt Nam còn lưu trữ được.
Tiếp theo đó “ Tổ Xi-nê khu 9” thành lập vào tháng 4-1949 và điện ảnh khu 7 (Sài Gòn – Chợ Lớn) bắt đầu xây dựng tháng 11-1949. Cùng với những máy quay phim 16mm, phim trực hình và những cơ sở in tráng thủ công đặt trên thuyền hoặc đào sâu xuống lòng đất, dùng chum vại hoặc thùng gỗ làm bể đựng thuốc in tráng…điện ảnh Nam Bộ đi những bước đầu tiên. Sau bộ phim Trận Mộc Hoá (1948), điển ảnh khu 8 quay những phim Chiến dịch Bến Tre, chiến dịch Trà Vinh, Lễ xuất quân trung đoàn 115, BCX (Binh Công Xưởng), Chiến dịch Cao Bắc Lạng (quay các bản đồ chiến dịch để giới thiệu chiến dịch biên giới), Chiến dịch Balan- Cầu Kè (1950), Dân quân đắp cản chống tàu chiến địch, v.v..
Tổ Xi-nê khu 9 hoàn thành phim: Nhà in Kháng địch, Trại thiếu sinh quân, Chiến dịch Sóc Trăng, Xưởng dệt Chị Thơm, Vụ Mùa, Xưởng quân giới khu 9, Hoan nghênh phái đoàn Chính Phủ Trung ươngv.v..
Điện ảnh khu 7 có những phim: Chiến dịch Bến Cát, Trận Bùng Binh, Trận Trảng bang, Trận Rạng Đông, Chiến Khu Đ, Trận Tràng Bomv.v.
Điện ảnh khu 8 còn thí nghiệp làm bộ phim bổ biết khoa học đầu tiên Bệnh lợn đóng dấu, sau đó năm 1952, khu 7 làm phim Kỷ niệm 1 năm Phi-la-tốp.
Những bộ trên đây, vì in tráng theo kiểu thủ công quay bằng phim trực hình, không được bảo quản theo những điều kiện kỹ thuật đầy đủ nên còn giữ lại được quá ít (phim Trận La Ngà quay bằng máy quay 35mm, dài 15 mét, chia làm 3 phần, bị hỏng một phần chưa dựng thành phim,Nhà in kháng địch chỉ có một đoạn, Trận Bến Cát do đồng chí Tô Cương quay nhưng in tráng bị hỏng).
Đầu năm 1951, do tình hình chiến trường có nhiều khó khăn, điện ảnh ba khu 7,8,9 nhập lại thành điện ảnh Nam Bộ về đóng lại tại khu 9 cũ. Lực lượng tập trung về người và máy móc nhưng phim nhựa thiếu nhiều vì giao thông khó khăn. Thời gian này điện ảnh Nam Bộ chủ trương làm những mẩu phim ngắn để rè tay nghề trong đó có phim Đả đảo đế quốc được gọi là “Phim tài liệu, truyện, hoạt hoạ”.
Phim Đả đảo đế quốc (hoặc hết đời đế quốc) không còn đến nay nhưng theo đồng chí Khương Mễ - một trong những người xây dựng phim – thì phim dài 150mét (16mm), thể hiện nội dung: Giặc Pháp tàn bạo cướp sạch, đốt sạch, quân đông, vũ khí nhiều nhưng phải thua quân đội và nhân dân ta. Phần tài liệu chiến đấu thì phim sử dụng các đoạn tư liệu trích trong các phim quay trận Mộc Hoá, Ba Lan, Bến Tre, Cầu kè, Trà vinh. Phần có diễn viên thì nhờ vào lực lưỡng do đồng chí Cao Thành Nhơn (tức Nguyễn Hiền) đóng, Phần hoạt hoạ do các hoạ sỹ Nguyễn Phi và Trần Kiềm phục trách có thể hiện cảnh “lính Pháp đi cướp Pháp bị bắt bỏ vào lọ rồi pháp thăng thiên bắn ra biển Đông”.
Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 (1973) trong dịp tổng kết 20 năm thành lập Điện ảnh Việt Nam hai bộ phim Chiến dịch Cao Bắc Lạng và chiến dịch La Ban – Cầu Kè đã được tặng giải Bông Sen Bạ với lời biểu dương: “Tiêu biểu cho những phim không có tiếng động thuộc giai đoạn đaàu của Điện ảnh Việt Nam”.
Nhận xét về giá trị nghệ thuật những phim đầu tiên này chỉ có thể chủ yếu dựa vào tên phim, vào những đoạn hồi ký và một sô shình ảnh còn lại.
Có thể coi những phim trên là những phim tài liệu mang tính thời sự, có giá trị tư liệu rất cao vì các nhà điện ảnh đầu tiên vủa ta tìm mọi cách để tiếp xúc với thực tế chiến đầu ở tiền tuyến cũng như hậu phương của cuộc kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, ghi chép được những sự việc, bầu không khí vô cùng điển hình của khoảng thời gian lịch sử đó.
Đọc lại những bài hồi ký “những thước phim đầu tiên” (của Mai Lộc), “Tổ Xi-nê khu 9” (của Lê Minh Hiền), “Kỷ niệm về điện ảnh khu 7” (của Tô Cương) và “Những ngày làm phim tại chiến khu Đồng Tháp” (của Khương Mễ), nghe lại những câu chuyện của các đồng chí hoạt động thời đó ở Nam Bộ, có thể thấy rõ sự thôi thúc về tình cảm và lý trí của những người chiến sĩ mong muốn bằng mọi giá chẹp lại những “bức ảnh sống” về những sự kiện của những ngày đầu cách mạng mà bản thân họ đang tham dự, đang mang xương máu ra cùng toàn dân thực hiện. Họ hăng say bám sát trận đánh, bất chấp bom đạn, máy bay địch hoặc ngâm mình trong nước tê cóng chỉ để ghi lại những đoạn phim ngắn bằng những phương tiện vô cùng hạn chế. Họ tìm mọi cách để in tráng những thước phim quý giá bằng thùng gỗ, chậu gỗ, chum vại, lặn lội vào nội thành Sài Gòn do địch kiểm soát để mua máy, mua phim, mua nước đá làm lạnh cho tuốc tráng phim, mua những chất liệu cho thuốc hiện hình…, lập buồng tối trên ghe xuồng lưu động để có thể về gần thành phố, tiện sử dụng nươc đá trong việc tráng phim (khu 8) dưới hầm sâu để tránh địch phá huỷ (khu 7) hoặc chui vào chiếc lu to thay buồng tối để tráng phim (khu 9). Với vốn hiểu biết về nghề nghiệp hầu như ở số không, họ màu mò tìm đọc sách, thí nghiệm sách chiếu bóng bằng đèn măng-sông, in tráng bằng guồng, đến cách quay một số cành xảo thuật sơ đăng nhất. Họ tranh thủ từng giờ từng phút làm sao cho phim quay xong được chiếu thật nhanh, phục vụ kịp thời: phim Trận Mộc Hoá ra mắt Uỷ ban hành chính Nam Bộ và quân đội một tháng sau khi quay, phim Chiến dịch Sóc Trăng được chiếu vào đợt tuyên truyền kết quả chiến thắng ngay khi chiến dịch còn chưa kết thúc.
Đến cuối năm 1951, đế quốc Pháp thất bại lớn ở miền Bắc phải tăng cường hoạt động để cố giữ miền Nam. Miền Tây, nơi trung tâm điện ảnh Nam Bộ đóng trước kia là nơi an toàn nhất của Chiến trường Nam Bộ, nay bị địch càn quét liên tục. Điện ảnh phảiphân tán về các tỉnh đội. Việc làm phim gần như đình trệ. Mặt khác một số cán bộ quan trọng của điện ảnh các khu 7,8,9 cũ đểu đã ra Bắc từ cuối năm 1950 để mang phim ra chiếu, quay phim gửi về Nam và cùng hợp sức xây dựng điện ảnh cả nước. Vì vậy điện ảnh Nam bộ từ năm 1951 chuý yếu chuyển sang chiếu phim ta quay và quay các nước xac hội chủ nghĩa gửi tới sau khu ta mở thông được đường giao lưu với quốc tế. Theo đồng chí Cao Thành Nhơn cho biết, hoạt động chiếu bóng ở Nam Bộ được tổ chức rất sớm. Từ 1945 dến 1953, khu 8 có 7 đội, đồng chí Nguyễn Thế Đoàn cho biết : đội chiếu bóng đầu tiên ở khu 7 thành lập ngày 1-1-1950 hoạt động ở vùng Chợ Lớn, phim có tiếng phải chiếu bằng máy chiếu phim câm, các nhạc sỹ Hoàng Việt và Minh Trị phải đánh đàn theo phim.
Hoàn cảnh hoạt động ở chiến khu Việt Bắc có những đặc điểm khác so với chiến trường Nam Bộ do đó những bước đầu tìm tòi để xây dựng điện ảnh cũng mang những đặc nét rõ rệt. Chiến khu Việt Bắc trước thiết lập ở vùng rừng núi xa hẳn các thành phố lớn, phương tiện giao thông đi vào vùng địch tạm chiếm xa xôi và khó khăn hơn nhiều so với ở Nam Bộ. Mặc khác, Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến cả nước, là nơi Trung ương Đảng và Chính phủ đóng cũng đòi hỏi việc xây dựng điện ảnh phải có tính cơ bản.
Nhiệm vụ quan trọng như vậy vốn liếng máy móc cũng không có gì đáng kể. Ngoài chiếc máy chiếu phim rạp nhãn hiệu Pa-tê và chiếc máy quay phim “Ciné – Sept” không còn có gì hơn. Về mặc cán bộ kỹ thuật, tình trạng cũng như ở khắp nơi, không có một chuyên viên về máy móc điện ảnh. Đồng chí Phan Nghiêm – Người được giao nhiệm vụ phụ trách Điện – Nhiếp ảnh trong Nha tuyên truyền và Văn nghệ (được thành lập tháng 7 – 1950) mới chỉ học qua Trường kỹ nghệ thực hành, chỉ biết điện ảnh nhờ tự tìm tòi sử dụng máy chiếu và quay phim (chủ yếu bấm từng khuôn hình) bằng chiếc máy “Ciné-sept”. Do đó việc chuẩn bị đẻ quay phim những thước phim đầu tiên trên chiến khu Việt Bắc có lâu hơn ở Nam Bộ. Mãi tới chiến dịch Biên giới (Thu đông 150) điện ảnh Việt Bắc mới xuất quân lần đầu tiên. Đồng chí Phan Nghiêm được trang bị một máy chiếu Pay-a Bô-lếch 6mm kèm theo một ống kinh F/50 mm của máy chụp ảnh chân dung kiểu cổ mà đồng chí Phan nghiêm mang theo từ Thủ đo, lắp nối vào máy bằng một ống nhôm để dùng như sống kính tê-lê cùng 10 hộp phim mỗi hộp 39 mét để quay phim Trận Đông Khê – trận mở đầu cho chiến dịch Biên Giới. Vừa phải khắc phục những khó khăn cua rngười chiến sĩ đi đánh đồn, vừa tham gia gọi loa địch vận, vừa chuẩn bị quay phim, đồng chí Phan Nghiêm còn phái đương đầu với những tình huống bất ngờ do máy móc trang bị đơn sơ, chắc vá, những hỏng hóc không có kinh nghiệm nghề nghiệp nên không lường trước được. Mặc dù vậy, phim Trận Đông Khê, ghi được những tư liệu vô cùng quý giá: Đồn Đông Khê cháy dưới hoả lực đại bác của ta, những tên giặc từ hầm ngầm giơ tay ra hàng v.v.. Tiếp đó, đồng chí Phan Nghiêm theo bộ đội, đã quay Trao đổi tù binh tại Thất Khê.
Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi phá được thế bao vây của giặc. Đường thông thương với thế giới được mở. Điện ảnh cũng có điểu kiện tiếp xúc với thế giới. Phim của Phan Nghiêm quay được mang sang tráng ở Hồng Kông. Gần 300 mét phim 16 mm được in tráng xong mang về nước lại theo đồng chí Phan Nghiêm sang dự liên hoan thanh nên thế giới tại Béc Lanh Cộng Hoà Dân chủ Đức ( 1951). Hai bộ phim tài liệu của điện ảnh Việt Nam quay tại Việt Bắc được dựng ngay trên toa xe lửa liên vận, được điện ảnh Liên Xô giúp in tráng thành nhiều bản trở thành những bộ phim đầu tiên mang những hình ảnh cuộc kháng chiến chống Pháp ra giới thiệu ở nước ngoài trước hơn một triệu thanh niên thế giới.
Trong khi dự Liên hoan, đồng chí Phan Nghiêm cũng đồng thời quay bộ phim tài liệu Hoạt động của đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam trong Đại hội liên hoan thanh niên thế giới tại Béc-Lanh. Đây là bộ phim đầu tiên của điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài.
Ở trong nước, trong thời gian này đồng chí Nguyễn Hồng Nghi – từ nhiếp ảnh chuyển sang – cũng quay được bộ phim tài liệu 16 mm Dân công phục vụ tiền tuyến trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, những hình ảnh các đoàn dân công gồng gánh, thồ xe đạp, dùng xe trâu trên những con đường ra mặt trận Hà Nam Ninh.
Mùa xuân 1951, Đại hội lần thứ hai của Đảng được triệu tập tại Việt Bắc. Sự kiện trọng đại của cả dân tộc đồng thời cũng là sự kiện lịch sử điện ảnh Việt Nam.
Các nhà điện ảnh Nam Bộ được cử ra Bắc mang phim ra chiếu và quay phim, lần lượt đến nơi. Từ khu 8, các đồng chí Mai Lộc, Nguyễn Phụ Cấn, v.v.. và khu 9 có các đồng chí Lê Minh Hiền, Nguyễn Thế Đoàn,v.v… lực lượng điện ảnh đầu tiên của cả nước được quy tụ và nhờ đó đã ghi lại được nhiều đoạn tư liệu vô cùng về Đại Hội là thứ hai của Đảng, đặc biệt là những thước phim vê Hồ Chủ tịch tại chiến khu Việt Bắc (phần tư lieu quay Hồ Chủ tịch tạ Việt Bắc chủ yếu là do đồng chí Lê Minh Hiền quay được nhằm thực hiện nhiệm vụ mang hình ảnh Bác Hồ về cho đồng bào miền Nam thoả lòng mong ước được thấy Bác.)
Cuộc kháng chiến chống Pháp trên đà Thắng Lợi. Nước ta lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện cho điện ảnh Việt Nam tiếp nhận những sự giúp đỡ của bạn bè, anh em trên thế giới. Từ những thước phim còn mang tính nghiệp dư, hoạt động điện ảnh bắt đầu chuyển sang những hình thức có tính chuyên nghiệp.
Liên Xô tặng ra 2 máy chiếu : 1 máy 35mm và 1 máy 16 mm.
Chủ tịch C.Gốt Van (Tiệp Khắc) tặng Hồ chủ Tịch bộ máy chiếu phim tại liên hoan thanh niên thế giới.
Đội chiếu bóng quân đội được thành lập với bộ máy chiếu 35mm Liên Xô và chiếc máy nổ chiến lợi phẩm phục vụ ở Việt Bắc với một số bộ phim như Trao đổi tù binh Thất Khê không có tiếng do đồng chí Phan Nghiêm quay, một số bộ phim Liên Xô (trên đồi Ma – La- khốp, Anh Hùng Ma-tơ-xốp, anh hùng phi công Ma-rét-xép) và một vài phim của các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tại Nam Bộ, một đơn vị được trang bị bằng bộ máy Vích –to và chiếc máy nổ chiến lợi phẩm chiếu phục vụ các đơn vị bộ đội và đồng bào với những phim ở các khu tập trung lại từ Việt Bắc gửi vào như: Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam, Hồ chủ tịch thăm dân công, Lênin hồi tháng Mười, Nước Cộng hoà U-crai-na, Nước cộng hoà Ac-mê-ni,v.v…
Năm 1952,bộ phim tài liệu đầu tiên quay bằng phim 35mm Chiến Thắng Tây Bắc được đồng chí Mai Lộc thực hiện là một bước mới của tài liệu Việt Nam tiến lên trình độ hoàn chỉnh, nhờ có những diễn biến chủ quan và khách quan mới.
Sau một thời gian làm phim, các nhà điện ảnh đầu tiên của Việt Nam dần dần nhận thấy lòng hăng say đến tận trận địa ghi lại những người, những việc anh hùng, bảo đảm đưa những hình ảnh đó đến với những người xem trong một thời gian ngắn vẫn chưa thoả mãn những yêu cầu về mặt nghệ thuật luôn thôi thúc họ. Xuất hiện những phương hướng tìm tòi mới. Và hoàn cảnh khác quan lúc đó cũng giúp họ bắt đầu thực hiện ý đồ tìm tòi mới đó.
Một số phương tiện như máy quay và phim sống 35 mm được bạn bè giúp đỡ, kinh nghiệm làm phim tài liệu rút ra từ việc hợp tác với một số nhà điện ảnh Trung Quốc sang cùng quay bộ phim Việt Nam kháng chiến lúc đó, sự tiếp xúc đầu tiên với những phim ảnh các nước xã hội chủ nghĩa – những yếu tố đó tất nhiên cũng có tác động đến những người làm phim Việt Nam. Tác động này có thể thấy rõ qua những chuyển biến mới trong bộ phim tài liệu Chiến thắng Tây Bắc. Từ những mẫu phim tài liệu ngắn mang tnhs thời sự hoặc những đoạn tư liệu ghi chép lại một số cảnh trong một trận đánh, những hình ảnh sống về sinh hoạt nhiều mặc trong kháng chiến, phim Chiến thắng Tây Bắc có đọ dài tới 8 cuốn phim (35mm) mở đầu cho những phim có nội dung khái quát từng giai đoạn lớn, có nhiều hình ảnh phong phú, phản ánh cuộc kháng chiến trong phạm vi từng địa phương lớn, phục vụ cho những chủ trương lớn. Cách làm phim tài liệu dài tổng hợp cố gắng ghi chép thật nhiều sự việc, con người thể theo trình tự thời gian đủ mọi mặc: từ địa lý, kinh tế đến chính trị, từ tuyến đến hậu phươngv.v… biểu lộ rõ trong phim Chiến thắng Tây Bắc. Lời thuyết minh cũng mang tính chất vừa giải thích, vừa kêu gọi động viên – Lối tiếp thu đowcj trong quá trình hợp tác làm phim Việt Nam kháng chiến. Tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai (1973). Phim Chiến thắng Tây Bắc được giải Bông sen vàng.
Đầu năm 1953, cùng với đà thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, tình hình điện ảnh Việt Nam, với việc xây dựng phim Chiến thắng Tây Bắc, đã phát triển chín muồi để có thể chính thức thành lập một tổ chức có tính chất tập trung toàn diện trong phạm vi cả nước nhằm phát huy những thành tựu bước đầu đã đạt được, xây dựng trên nền nghệ thuật điện ảnh dân tộc phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Ngày 15-3-1953 trên chiến khu Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 147/SL quyết định đặt phòng Điện – Nhiếp trong Nhà tuyên truyền và Văn nghệ thành một doanh nghiệp quốc gia lấy tên là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam”…
Sắc lệnh 147/SL quy định cho Điện ảnh và Nhiệp ảnh Việt Nam 4 nhiệm vụ:
1. Tuyền truyền chính sách chủ trương của Chính phủ
2. Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và dân Việt Nam.
3.Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh kiên quyết của nhân dân các nước bạn.
4. Giáo dục băn hoá và chính trị cho nhân dân.
Từ đó ngày 15-3-1953 được coi như ngày chính thức khai sinh ra nên điện ảnh dân tộc (cũng như ngành nhiếp ảnh Việt Nam). Mặc dù tên gọi đầu tiên được quy định trong Sắc Lệnh 147/SL là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh” nhưng 4 nhiệm vụ đặc biệt các nhiệm vụ 1,2 và 4 được đề ra cho những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc rõ rang có bao hàm công việc sản xuất, sáng tác phim vì chỉ có phim ảnh do các nghệ sỹ Việt Nam sáng tạo, phản ánh thực tế chiến đấu xây dựng ở Việt Nam mơi có thể là cơ sở đầy đủ đúng đắn nhất, hoàn chỉnh nhất cho công tác tuyên truyền, động viên, giáo dục nhân dân Việt Nam.
Tính chất lịch sử của Sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký ngày 15-3-1953 đánh dấu cột mốc ra đời của ngành điện ảnh Việt Nam là ở chỗ văn kiện này là sự xác nhận chính thức đầu tiên về mặt pháp lý sự hình thành một tổ chức điện ảnh Nhà nước của Chính quyền Trung Ương, từ đó tạo ra những điểu kiện cơ bản để đưa những hoạt động điện ảnh lẻ tẻ còn mang tính chất tự phát, địa phương nghiệp dư vào một tổ chức có tính chất chuyên nghiệp, thống nhất cả nước với một sự chỉ đạo tập trung, với những nhiện vụ thống nhất, tạo điểu kiện để tập hợp, đào tạo, bổ sung, hoàn chỉnh đội ngũ cán bộ nhiều mặt, nhiều bộ môn điện ảnh, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho sự nghiệp điện ảnh dân tộc, phát huy đầy đủ hiệu lực của sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em tới.
Khu Đồi cọ thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên – nơi làm việc của phòng điện ảnh – Nhiếp ảnh cũ trở thành chiếc nôi ra đời của điện ảnh Việt Nam.Bắt đầu là những chiếc buồng tối đóng bằng ván trong đặt những guồng tráng phim thủ công đóng bằng gỗ. Tiếp đó, một chiếc máy in phim chế biến từ một máy chiếu phim 16mm bắt đầu hoạt động …Phong trào thi đua yêu nước lên cao cùng với tin thắng trận dồn dập từ các mặt trận đưa về. Ngành điện ảnh mới chính thức thành lập nhộn nhịp hoạt động trong không khí chung của cả nước. Đồng chí Phạm Văn Khoa – một trong những người đầu tiên xây dựng nền điện ảnh Việt Nam đã miêu tả quang cảnh Đồi Cọ trong những ngày này như sau: “ Thời kỳ này, khu điện ảnh nhộn nhịp hẳn lên. Sáu mươi lăm chiếc nàh lá làm trên ba quả đồi ở rừng Cọ Việt Bắc ngày cũng như đêm, không lúc nào ngớt tiếng động cơ phát điện. Các bộ phận in tráng, thu thanh, máy chiếu, máy nổ, máy phóng thanh thi đua với nhau góp công, góp sức xây dựng ngành điện ảnh.”
Tuy vậy máy của ta mới chỉ in được phim 16mm câm. Phim Chiến thắng Tây Bắc 35mm có iếng động phải gửi ra nước ngoài in tráng. Vấn đề cấp bách đầu tiên cần giải quyết là phải in được phim có tiếng. Chủ trương sản xuất phim có tiếng giữa rừng Việt Bắc vào thời gian đó là một chủ trương thật táo bạo vì muốn thực hiện được việc đó cần có máy ghi âm quang tính vào phim. Đây là một loại máy vi tính, phức tạp, đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao của nhiều ngành chuyên môn cùng phối hợp chế tạo. Trong khi đó lực lượng cán bộ kỹ thuật điện ảnh của ta chưa có hiểu biết gì về thiết kế loại máy này, thậm chí chưa hình dung được thực tế toàn bộ máy ra sao. Khó khăn tưởng chừng không sao vượt nổi. Những trong khí thế chung của cả nước đang mang hết sức cho chiến dịch Điện Biên lịch sử và trong niềm hân hoan được thấy sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Chính phủ đối với ngành điện ảh thể hiện qua sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký giữa lúc Người đang bận giải quyết biết bao côgn việc bộn bề, trọng đại của dân tộc, những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc đều có chung mộ tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người ảnh dân tộc đều có chung một tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trogn một bài hồi nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trong một bài hồi ký, đồng chí Phan Nghiêm viết : “ Mỗi chúng ta đều như được chắp cánh bay lên. Một niềm tin phấn khởi tin tưởng dạt dào dâng lên khắp khu Đồi cọ là nơi chúng tôi xây dựng điện ảnh tại chiến khu Việt Bắc”.
“…Những lời của Bác Hồ về tinh thần tự lực cánh sinh mà tôi được may mắn nghe Bác nói trong Đại hội chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất- hồi đó tôi và một số anh em làm công tác điện ảnh được đến Đại hội về quay phim – cùng với những gương sáng ngời của các anh hùng chiến sĩ thi đua trong Đại hội đã mang đến cho tôi niềm tin tưởng và quyết tâm vượt mọi khó khăn, chế tạo kỳ được chiếc máy mà toàn ngành đang mong đợi”.
Với niềm tin tưởng và quyết tâm đó, với sự giúp đỡ tận tình của tập thể, suốt hơn bốn tháng trời đồng chí Phan Nghiêm miệt mài vừa học tiếng Anh vừa nghiên cứu sách về kỹ thuật thu thanh (bằng tiếng Anh), vừa làm nhiệm vụ công nhân cơ khí, thu lượm các chi tiết máy cũ, thậm chí cả vở đồ hộp thu được của lính Pháp (để làm vỏ hộp máy) quyết chế tạo bằng được bộ máy ghi âm quang tính.
Sự ra đời của đứa con đầu lòng của ngành cơ khí điện ảnh Việt Nam – chiếc máy ghi âm quang học tự học mang tên “tự cường 1” được đồng chí Phan Nghiêm kể lại như sau:
“Thế rồi trong một đêm cuối mùa thu năm ấy, sau khi bấm nút cho máy cahỵ tôi vô cùng xúc động nói trước mi-crô để ghi lời nói của mình vào phim.
Những thước phim có tiếng đầu tiên được nối thành một vòng vô tận lắp vào một máy chiếu phim.
Điều thần kỳ mong đợi bấy lâu nay đã đến: tiếng nói trong phim phát ra làm vang dội cả khu rừng đang chìm trong bóng đêm. Anh em khu Đồi Cọ bừng tỉnh lắng nghe tiếng nói được ghi vào những thước phim có tiếng đầu tiên bằng chiếc máy ghi âm quang học tự chế của ngành điện ảnh Việt Nam.”
Bộ phim đầu tiên trong đó lời thuyết minh, nhạc nền và tiếng động được ghi bằng “ Tự cường I” cũng là bộ phim ghi lại sự kiện đã thôi thúc Phan Nghiêm sáng chế ra chiếc máy. Đó là phim Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (phim 16mm). Những người xem phim thính tai đã phát hiện ra cả tiếng muông thú và côn trùng của núi rừng Việt Bắc lẫn trong tiếng nhạc và lời thuyết minh tỏng bộ phim lịch sử này. Những tạp âm nói lên sự thiếu sót trong buổi trường thành đó không hề làm nản lòng những người đi đầu xây dựng điện ảnh Việt Nam mà trái lại còn tạo cho họ những ấn tượng sâu sắc về những ngày hoạt động sáng tạo sôi nổi cho ngành điện ảnh dân tộc.
Tiếp theo đó, sau ngày hoà bình lập lại, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, tại thủ đô Hà Nội, Phan Nghiêm chế tạo tiếp “tự cường 2” – máy ghi âm quang tính vào phim 35 mm, rồi máy “ tự cường 3” hoàn chỉnh hơn và cả một loạt trang bị tự chế cho một dây chuyền sản xuất phim 35 mm có tiếng : khung và bộ tráng phim, tủ sấy phim, bàn hoà âm, bàn dựng phimv.v…
Trong khi Phan Nghiêm say sưa sáng chế máy “Tự cường 1” thì các đoàn quay phim cũng lên đường vào vùng địch hậu và ra mặt trận ghi chép những hình ảnh cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân Việt Nam đang tiến tới thắng lợi.
Giữ làng giữ nước – bộ phim tài liệu 16mm, dài 4 cuốn quay về cuộc sống chiến tranh du kích tại vùng địch tạm chiếm trên tả ngạn sông Hồng do đạo diễn kiêm quay phim Mai Lộc và các nhà quay phim Quang Huy, Trần Quốc Ân, thực hiện tiếp tục chiều hướng khái quát một vấn đề lớn mà phi Chiến Thắng Tây Bắc đã mở đầu. Phong cách làm phim chiến đấu của những bộ phim tài liệu ngắn đầu tiên được phát huy qua công phu vượt mọi nguy hiểm, khó khăn lọt hẳn vào vùng địch tạm chiếm và qua tinh thần của những người làm phim tìm mọi chách tiếp vận với tài liệu, trực tiếp ghi chép những hình ảnh chân thực làm cơ sở vững căhcs cho bộ phim có được sức thuyết phục mạnh mẽ và sức khái quát cao. Hình tượng cuộc chiến tranh du kích mang tính toàn dân tộc được thể hiện khá sinh đọng qua những thước phim ghi được sinh hoạt quen thuộc đã trở thành nếp sống hành ngày trong khu du kích nhưng thực sự vượt qua khỏi ức tưởng tượng cảu những người chỉ bieét sống trong hoàn cảnh hoà bình, lao động bình thường. Ống kính ghi chép – nhiều khi về mặt kỹ thuật ánh sáng, cắt khuôn hình còn quá thô sơ nhưng khá chân thực mộc mạc, không tô vẽ - từ hoạt động của nhân dân vừa sản xuất vừa xây dựng làng chiến đấu, những trận chiến đấu chống càn, thực hiện cải cách ruộng đấtv.v… Phong cách mộc mạc đó tạo cho những cảnh tố cáo tôi ác giặc (xác cô gái nôn dân bị giặc đi càn bắn chết, xương người đào được trong bốt Huyết Trụ sau khi giặc bỏ chạy) có sức thuyết phục mạnh mẽ nhờ đó bộ phim có cơ sở vững chắc để lý giải về ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân, về đường lối đúng đắn và vai trò lãnh đạo quyết định của Đảng trong việc phát động cuộc chiến tranh du kích toàn dân. Những cảnh nhân dân thực hiện “ Vườn không nhà trống” cất giấu thóc lúa, gà lợn tự động chạy xuống hầm bí mật, trở thành những đoạn phim giáo khao bổ ích về cuộc chiến tranh du kích đồng thời cũng nêu bật lên ý chí quyết tâm của nhân dân ta không chịu khuất phục trước bạo lực của giặc xâm lược. Đặc biệt đoạn phim trực tiếp quay cảnh du kích đánh mình lật đổ đoàn tàu hoả quân sự chở xăng đàu của địch trên đường số 5 mà nhà quay phim Quang Huy thực hiện được với mưu trí và lòng dũng cảm và sự giúp đỡ tận tình của các chiến sĩ và nhân dân vùng tạm chiếm, có giá trị tư liệu lịch sử không kém gì những đoạn phim được quay trong các cuộc chiến đấu của điện ảnh tài liệu Liên Xô, Pháp, v.v… đã nổi tiếng trong điện ảnh thế giới. Toàn bộ hình ảnh đoạn phim này ghi được từ khi đoàn tàu chở dầu quân Pháp lao vào nơi bố trí mìn, bị mình nổ lật tung, những toan xe chồm lên nhau, lăn xuống vệ đường, lửa bốc cuồn cuộn, khó bốc cao thành hình nấm khổng lồ… được đạo diễn R. Các men (Liên Xô) trích sử dụng trong phim Việt Nam trên đường thắng lợi của ông. Giá trị lịch sử của phim Giữ làng giữ nước còn có ý nghĩa đặc biệt trong nền điện ảnh dân tộc, vì đây là bộ phim thứ hai có tiếng động, lời thuyết minh ghi bằng chiếc máy “Tự cường” do điện ảnh Việt Nam chế tạo. Phim Giữ làng giữ nước được tặng giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim lần thứ 2 (1973).
Trong khi đoàn làm phim Giữ làng giữ nước đi vào vùng địch ghi lại hình ảnh cuộc chiến tranh du kích thì một đoàn khác gồm có đồng chí Nguyễn Tiến Lợi, Nguyễn Hồng Nghị, Nguyễn Phụ Cấn, Nguyễn Quý Lục, Nguyễn Đăng Bẩy, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Như Ái, Nguyễn Thụ… được cử lên Điện Biên Phủ thắng lợi. “Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” của dân tộc Việt Nam cũng đồng thời cung cấp cho những người làm phim chất liệu thực tế, một cảm xúc vô giá để thực hiện bộ phim đánh dấu cột mốc mới trong lịch sử điện ảnh ta: phim tại liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ (35mm).
Với một tập thể làm phim khá đông đảo chia làm nhiều đội nhỏ phối hợp chặt chẽ với nhau, đoàn làm phim Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi lại nhiều hình ảnh chân thực, nhiều tư liệu sống động có giá trị lịch sử về sự kiện quan trọng có tầm quyết định trong sự nghiệp chiến đấu chống quân xâm lược Pháp giải phóng dân tộc, có tiếng vang rộng lớn trên toàn thế giới. Những toàn cảnh giao thông hào quân ta chẳng chịt bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên, cảnh cắm cờ trắng ra hàng v.v..Đã vượt ra ngoài phạm vi những cảnh trong một bộ phim tài liệu và trở thành tư liệu có một không hai có thể dùng làm để tài sáng tác, làm chất liệu gợi ý cho các nghệ sỹ sáng tác thuộc nhiều thế hệ sau trong các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau.
Bên cạnh những giá trị tư liệu lớn lao có được nhờ viết tiếp tục phát huy cách làm những phim tài liệu trước đó, phim Chiến thắng Điện Biên Phủ còn nổi bật ở giá trị chính luận toát ra từ lời bình, giải thích, chứng minh kèm theo những hình ảnh sinh động như: Hồ Chủ tịch đến thăm, nói chuyện với bộ đội trước khi chiến dịch bắt đầu, Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam bàn bạc quyết định mở chiến dịch, các chiến sỹ đọc thư bài nhà báo tin phát động cái cách ruộng đất v.v.. nhờ đó nâng tầm nhận thức của người xem, giúp họ khái quát được cả một quá trình “9 năm làm một Điện Biên”, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa tiền tuyến với hậu phương dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Lãnh tụ với những kỳ tích chiến đấu mà quân đội để có thể đánh giá phim chiến thắng Điện Biên Phủ như một cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của nền điện ảnh dân tộc đó là giá trị nghệ thuật cao của tác phẩm này bộ lộ qua hình tượng người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cchống Pháp thực hiện rực rỡ, sâu sắc, hoàn chỉnh. Hình tượng người chiến sĩ đó rực sáng trên nền cuọc chiến tranh nhân dân do toàn Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Yếu tố nghệ thuật đó có được, một phần lớn nhờ có sự xúc động thực sự của những người cầm máy quay trong tập thể tác giả bộ phim. Tự bản thân nhiều cảnh riêng biệt của từng nhà quay phim tham gia xây dựng tác phẩm Chiến thẳng Điện Biên Phủ cũng đã đạt tới giá trị nghệ thuật cao. Đó không phải là những bức ảnh sao chép những sự việc diễn ra trước ống kính mà trong những cảnh phim này còn chứa đựng tâm hồn xúc cảm, các đánh giá thái độ và tình cảm của người cầm máy bay. Sức truyền cảm mạnh mẽ toát ra hâu như từ mọi cảnh phim: bộ đội kéo pháp qua núi, văn công biểu diễn ngoài chiến hoà, chiến sỹ đọc thư Bác trước giờ xuất kích, những nét mặt, bàn tay chiến sỹ đào hào giao thông vây quanh Điện Biên Phủ. Cái đẹp của người chiến sĩ quân đội toả ra những cảnh ghi lại lòng dũng cảm, sức cố gắng phi thường, tình yêu đất nước, yêu quê hương, yêu lãnh tụ, tinh thần chiến đấu ngoan cường mà tập thể tác giả phim truyền đạt với cả tấm lòng trân trọng tới người xem qua cận cảnh nêu bật nét mặt,cặp mắt, cánh tay hoặc qua những toàn cảnh rộng lớn, hùng vĩ quanh cánh đồng Mường Thanh, núi rừng Tây Bắc.
Với giá trị tư liệu, chính luận và nghệ thuật cao phim tài liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ là tác phẩm tổng kết cả một giai đoạn phát triển đầu tiên của điện ảnh dân tộc Việt Nam trưởng thành trong chiến đấu, luôn bám sát thực tế cách mạng ở những nơi sôi sục nhất của cuộc sống, luôn phát huy tinh thần tự lực tự cường, vượt mọi khó khăn, thiếu thốn, nguy hiểm vươn lên những thành tựu mới về mặc nghệ thuật. Phim Chiến thắng Điện Biên Phủ được tặng Bông sen Vàng trong dịp tổng kết sáng tác 20 năm thành lập ngành điện ảnh tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai (1973). Vì Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với nhiệm vụ giáo dục truyền thống chiến đấu cho Quân đội, về sau, các nhà điện ảnh Quân đội đã sử dụng tư liệu trong phim Chiến thắng Điện Biên Phủ để dựng lại bộ phim Kỷ niệm mười năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (có đề cập trong phần điện ảnh Quân đội).
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết. Tại miền Nam, trong thời gian bộ đội và cán bộ ta thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ tập kết ra Bắc, đồng chí An Sơn đã quay được bộ phim tài liệu Nam đất miền Nam về sự kiện này.
Miền Bắc Việt Nam được giải phóng tạo điểu kiện thuận lợi cho việc phát triển điện ảnh thành một ngành nghệ thuật độc lập, hoàn chỉnh gồm đủ các thành phần nghệ thuật, kỹ thuật và kinh tế.
* Bối cảnh chung của quá trình phát triển điện ảnh cách mạng (1954-1975)
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã tạo điều kiện quyết định cho việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Một nửa đất nước đã có hoà bình, toàn dân ta bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc để đi lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho đồng bào miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà.
Bối cảnh lịch sử hết sức có ý nghĩa này là một luồng sinh khí mạnh mẽ tác động sâu sắc đến sự phát triển của các lĩnhvực văn học nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật điện ảnh.
Công cuộc xây dựng hoà bình đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để toàn ngành điện ảnh tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả nội dung Sắc lệnh 147/SL về việc thành lập Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam được chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 15/3/1953 tại chiến khu Việt Bắc.
Đây là thời kỳ mà nền điện ảnh nước nhà tập trung mọi nỗ lực để kiện toàn bộ máy quản lý vĩ mô, xây dựng cơ sở sản xuất phim tại Thủ Đô Hà Nội và mạng lưới phát hành phim, chiếu bóng trong toàn quốc:
Năm 1956, tổ chức điện ảnh được tách riêng làm hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam. Cũng trong thời gian này, Cục Điện ảnh được thành lập để chỉ đạo sự hoạt động thống nhất trong toàn ngành.Năm 1957 báo Điện ảnh được ra đời, là cơ quan ngôn luận của ngành nhằm giới thiệu những thành tựu điện ảnh trong và ngoài nước, cũng như tuyên truyền phổ biến kiến thức điện ảnh đến người xem phim. Năm 1959, Trường Điện ảnh Việt Nam, Nhà máy cơ khí điện ảnh, Xưởng phim hoạt hình và búp bê Việt Nam, Xưởng phim thời sự, tài liệu Trung ương lần lượt ra đời. Và cũng trong năm này, bộ phim Chung một dòng sông được chính thức ra mắt người xem. Đó là một tác phẩm được coi như là một bộ phim truyện đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng và cho đến nay bộ phim Chung một dòng sông vẫn giữ vị thế một tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam.
Sự hấp dẫn của một nền nghệ thuật trẻ trung đầy sức sống với hiện thực lớn lao của đất nước đã thu hút đông đảo các nhà văn, nhà hoạt động văn hoá, các chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân, các chàng trai cô gái có năng khiếu nghệ thuật ở thành thị và nông thôn. Các nhà văn có tên tuổi như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… đã dành nhiều tâm huyết cho loại hình chọn vào các lớp đào tạo năng khiếu của Trường Điện ảnh Việt Nam và được gửi đi đaoà tạo ở nước ngoài. Lớp nghệ sỹ điện ảnh được trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp và những năm đầu tiên đầy tài năng, đấy dấn thân của nền điện ảnh nước ngoài. Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm trời, nền điện ảnh non trẻ của chúng ta đã có thể sản xuất được tất cả các thể loại: Phim truyện, phim tài liệu, phim phổ biến khoa học và phim hoạt hình. Trong đó có những bộ phim xuất sắc được trao thưởng cao tại các liên hoan phim Quốc tế và trong nước, được người xem đón nhận nồng nhiệt.
Cũng trong hơn 10 năm ấy, những sáng tác điện ảnh của thế hệ đầu tiên đã bám sát thực tiễn cách mạng, phản ánh một cách sinh động công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở một nửa đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm và cuộc đấu tranh sục sôi ý chí cách mạng của đồng bào miền Nam chống Mỹ và tay trái trên tiền tuyến lớn. Điều kỳ diệu là các tác phẩm xuất sắc trong thời kỳ này đã luôn được thể hiện sinh động, mang đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc và dấu ấn thời đại. Có thể nói yếu tố tư tưởng và nghệ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau đã mang đến cho người xem những cảm thụ sâu sắc, những suy ngâm đồng điệu.
Và cũng trong hơn 10 năm này, mạng lưới phát hành phim và chiếu bóng đã được xây dựng hoàn chỉnh từ Trung ương đến cấp huyện và lưu động đến cấp xã. Những con số thống kê vào năm 1964, năm đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc bằng sự kiện vịnh Bắc Bộ (ngày 5/8/1964), cho thấy, mặc dù, trong điều kiện vừa hoà bình vừa chiến tranh, cả nước (miền Bắc) đã có: 336 đơn vị chiếu bóng, thực hiện được 113.316 buổi chiếu phục vụ 72.414.720 lượt người xem, tính bình quân mỗi người dân được xem 4,37 lượt/năm.
Sự hình thành đội ngũ, việc sáng tác tác phẩm điện ảnh và phổ biến trong giai đoạn từ năm 1954 – 1965 là cột mốc quan trọng, là những trang vàng trong lịch sử điện ảnh nước nhà. Đây là giao đoạn cả nước trực tiếp đánh Mỹ và bọn chư hầu, tay sai ở miền Nam, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của chúng ở miền Bắc.
Cả nước nó chiến tranh, Khẩu hiệu “ Tất cả cho tiền tuyến” là mệnh lệnh thiêng liêng đối với mỗi người Việt Nam yêu nước. Miền Bắc vừa là tiền tuyến đánh Mỹ vừa phải xây dựng hậu phương để cung cấp sức người, sức của cho miền Nam. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được khơi dậy trong mọi lứa tuổi, trong mọi ngành nghề, trong mọi địa phương, trong mọi quân binh chủng của cả nước.
Hoà trong nhịp sống khẩn trương, hào hùng, cam go và quyết liệt ấy, nhiệm vụ cao cả của văn học nghệ thuật nói chung và nghệ thuật điện ảnh nói riêng tập thể cá nhân anh hùng và cao hơn là tinh thần độc lập dân tộc, ý chí quật cường của một đất nước đứng ở tuyến đầu chống ngoại xâm, chống chủ nghĩa đế quốc vì sự giải phóng con người của thế kỷ XX. Những giá trị ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay trong những ngày đầu của Đảng, toàn dân và toàn quân ta đương đầu với những cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh leo thang phá hoại bằng không quân và hải quân ở Miền Bắc của đế quốc Mỹ:… “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố , xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, Không có gì quý hơn độc lập tự do…”. (Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước của Hồ chủ tịch).
Toàn thể cán bộ, nghệ sỹ, công nhân viên của điện ảnh Việt Nam hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Bác bằng một cuộc ra quân rầm rộ.
Nhiều nhà làm phim, phổ biến phim ưu tú được cử vào miền Nam để bổ sang cho Điện ảnh Giải Phóng và Điện ảnh Quân Giải phóng. Những mũi quay phim chiến trường không những có mặc ở các chiến dịch lớn mà còn bám sát các địa bàn giáp ranh kịp thời phản ánh cuộc chiến đầu hào hùng bằng cả ba thứ quân của lực lượng cách mạng. Chính vì thế mà mạng lưới sáng tác điện ảnh và chiếu phim đã hình thành đến cấp khu, cấp tỉnh như: điện ảnh khu V, khu VI, điện ảnh Trị Thiênv.v… Năm 1968, trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy cảu quân và dân ta dịp tết Mậu Thân, điện ảnh Giải Phóng đã đột nhập vào Sài Gòn chiếu phim tại một rạp lớn khiến bọn địch không kịp trở tay.
Ở miền Bắc cũng hình thành nhiều mũi làm phim tài liệu – thời sự ở các ngành và các địa phương như: Điện ảnh Hải Phòng, Điện ảnh Giao thông vận tải, Điện ảnh Bộ đội biên phòng, Điện ảnh Công an Nhân dân, Điện ảnh Công an nhân dân vũ trang, Điện ảnh Hà Nộiv.v..
Phim tài liệu thời sự đã chứng tỏ sức sống và sức bật kỳ diệu khi các nhà làm phim bám sát bước chân hnàh quân và tác chiến của người chiến sỹ trên các trận tuyến đánh giặc và cả của cả những người công nhân, nông dân, trí thức vừa phục vụ, vừa tham gia chiến đấu ở hậu phương. Một loạt phim mà tên gọi nóng hổi chiến sự đã ra đời như: Dòng sông quê hương, Chiến Thắng Dương Liễu – Đèo Thông, Trong lòng chảo Khe Sanh, Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Người Hàm Rồng, Trận địa mặt đường,… đã có giá trị phục vụ thiết thực bộ đội và nhân dân ta.
Phim truyện đã có những biến chuyển mạnh mẽ cả bề rộng lẫn bề sâu, cả nội dung tư tưởng lẫn chất lượng nghệ thuật. Nếu như ở cuối giai đoạn 1954 -1965, điện ảnh phim truyện của ta mới đề cập đến những mảng để tài chiến tranh cách mạng và chiến tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh thống nhất nước nhà bằng các phim : Chung một dòng sông, Con chim vành khuyên, Vợ chồng A Phủ, Kim Đồng, Chị Tư Hậu, Người chiến sỹ trẻv.v… thì thời kỳ này có thêm mảng phim về đề tài xây dựng cuộc sống mới, giải quyết vấn đề “ai thắng ai” trong quan hệ sản xuất, trong tư duy của con người trước thời đại. Đó là các phim Người về đồng cói, Than, Hoa Thiên lý, Truyện vợ chồng anh Lực.
Thể loại phim truyện ngắn cũng được sáng tác thử nghiệm. Tuy thành công còn khiêm tốn nhưng trong đó là bước đi đáng khuyến khích. Thể loại này phù hợp với điều kiệ đất nước có chiến tranh, có thể phản ánh kịp thời con người, sự kiện đột phá của cuộc chiến và tạo cơ hội cho những nhà làm phim trẻ mới vào nghề thử sức của tự khẳng định.
Phim hoạt hình cũng được mở rộng các bình diện sáng tác. Bên cạnh những bộ phim mang tính ngụ ngôn, đồng thoại, điện ảnh phim hoạt hình đã có một loạt phim về đề tài chống Mỹ và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong nhân dân, đặc biệt là lứa tuổi thiếu niên nhi đồng. Đó là các phim : Binh Ong, Chiến Công của chú Sét, Pháo đài xanh, Bài ca trên vách núi, Con Sáo biết nói, Trâu húc, Kơpahơlang, Mưa chống cànv.v..
Điện ảnh thời kỳ 1965 – 1975 còn được ghi nhận như là sự trưởng thành vượt bậc về đội ngũ và trình độ nghề nghiệp. Có thể nói, ở thời kỳ này trên mọi nẻo đường của đất nước, trên mọi trận tuyến của cách mạng, đâu đâu cũng có dấu chân của các cán bộ công nhân viên, nghệ sĩ điện ảnh. Nhiều người đã hy sinh cả tính mạng trong lúc đi sáng tác tác phẩm và mang đi phục vụ bộ đội và nhân dân.
Trong khoảng thời gian hơn 20 năm (từ 1954 – 1975) điện ảnh của chúng ta không những phục vụ đắc lực sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta mà qua thử thách của cuộc chiến tranh thần thánh đã không ngừng trưởng thành một cách toàn diện: đội ngũ lớn mạnh với đông đảo các thành phần sáng tác , sản xuất, phổ biến phim; trình độ làm phim ngày càng mang tính chuyên nghiệp, các cơ sở làm phim được mở rộng mang tính chuyên sâu và bước đầu đã khẳng định là một nền điện ảnh có bản sắc, có một vị thế trong khu vực và trên thế giới.
Theo đồng chí Phan Nghiêm- một trong những người đầu tiên tham gia xây dựng bộ phận điện ảnh – khi đó điệnả ảnh ta chi có một máy quay phim 35mm chạy cót gọi là máy “ciné –sept” (mỗi lần lắp phim vào ca-xét chỉ được 7 mét phim). Máy có thể dụng vừa để quay phim, vừa để baám từng hình như máy chụp ảnh. Với trang bị quá nghèo nàn như vậy, điện ảnh chưa thể hoạt động có kết quả, chưa thể tự mình ghi lại những cảnh lịch sử trong ngày 2-9 1945 khi Hồ Chủ Tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc Lập tại Quảng trường Ba Đình. Vì vậy, sau này khi cùng điện ảnh Trung Quốc làm phim tài liệu Việt Nam kháng chiến (1951) các nhà điện anhr phim sử dụng những bức ảnh chụp tại Quảng Trường Ba Đình ngày 2-9-1945 kết hợp với nhnưgx đoạn phim quay lại hình ảnh Hồ Chủ tịch (quay trên chiến khu Việt Bắc) để thể hiện lại không khí của những giờ phút khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà. Những cảnh thực sự ghi được bằng máy quay phim phải đợi đến năm 1974, khi đoàn làm phim tài liệu Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh sang quay phim ở Pháp, ta mới có được nhờ một nhà điện ảnh ở nước ngoài – không nói tên – quay được gửi tặng đoàn quay phim của ta.
Sự ra đời của Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Châu Á không những chỉ mang ý nghĩa lịch sử vô cùng lớn lao đối với nhân dân Việt Nam mà còn thu hút được sự khâm phục, yêu mến, kính trọng đối với nhân dân các nước trên thế giới. Những thước phim vô cùng quý giá của nhà điện ảnh vô danh ở nước ngoài ghi được hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 và gửi tặng ta một cách hào hiệp năm 1974 đủ nói lên điều đó. Bên cạnh sự kiện đó, một việc cần ghi lại là sự hình thành của nhóm điện ảnh “Sao Vàng” do kiều bào của ta ở Pháp tổ chức. Những người dân Việt Nam trước đây, vì những lý do khác nhau, phải sống trên đất Pháp với những điều kiện của người mất nước, nay được thấy những hình ảnh thật thiêng liêng những cũng rất cụ thể của Tổ quốc: cờ đỏ sao vàng, bài quốc ca Việt Nam, biểu cho lòng yêu nước Việt Nam, đã tìm mọi cách bày tỏ những xúc cảm sâu sắc của mình qua những thước phim của nhớm “Sao Vàng” quay được trong thời gian này và dựng lại thành những phim : Hồ chủ tịch tại Pháp, Hôi Nghị Phông-te-nơ-blô, sinh hoạt của 25.000 Việt Kiều tại Pháp (hoặc phíai đoàn Phạm văn Đồng tại Pháp). Giá trị tư liệu quý giá của những thước phim trên là ở chỗ nó ghi lại được bầu không khí vô cùng chân thực của cả một cộng đồng lớn lao người Việt trên đất Pháp lúc đó, những tình cảm yêu nước mang tính điển hình cao của những người dân Việt dù sống xa Tổ Quốc rất lâu vẫn luôn hướng về quê hương, và đônga bảo mình trong nước với tình cảm nồng cháy. Những cảnh quay cờ đỏ sao vàng tung bay trên đất PHáp chứng tỏ mgưpừo cầm máy hoà mình với “hồn Tổ quốc:, tự hào vì đã tự tìm thấy “hình của nước”. Những cảnh quay Hồ Chủ tịch dự các cuộc tiếp đón với đấy đủ nghi lễ dành cho một nguyên thủ quốc gia, những sinh hoạt của Bác tại Pháp (tập võ, dạo chơi, gặp kiều bào..v.v), hình ảnh các vị lãnh đạo nhà nước ta trong cuộc đấu tranh ngoại giao với chính phủ Pháp, chan hoà với kiều bàov.v..Có thể nói là những thước phim quay cả bằng trái tim và khối óc của hàng vạn kiều bào ta sống trên đất Pháp hồi đó. Chính vì vậy, ngày nay xem lại những thước phim sống trênđất Pháp hồi đó. Chính vì vậy, ngày nay xem lại những thước phim này, với những lời thuyết minh, với cách hành văn, với lối sử dụng nhạc mang đậm dấu ấn của những bước chập chững đó (ví dụ: bản nhạc “Con thuyền xa bến” của Lưu Bách Thụ được dùng để mở đầu và kết thúc bộ phim Hội Nghị Phông –te-nơ-blô), ta vẫn thấy một niềm xúc động mạnh mẽ vì đowcj chứng kiến những cảnh mang tình lịch sử vô cùng trọng đại, vô cùng mạnh mẽ vì được chứng kiến những cảnh mang tính lịch sử vô cùng trọng đại, vô cùng chân thật được thể hiện qua những cảm xúc thật chân thành. Hơn nữa, với trình độ phát triển kỹ thuật của thời sau chiến tranh thế giới thứ hai, việc ghi âm còn rất phức tạp. Nhóm “sao vàng” đã có công ghi lại trên 18 vòng quay với máy móc hết sức cồng kềnh, một số đoạn lời Hồ Chí Minh nói tại Pháp. Năm 1974, đoàn làm phim Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã thu lại được. Cho đến nay, đây là những lời Hồ Chủ tịch nói được ghi âm sớm nhất được lưu trữ trên đất nước ta.
Những thước phim trên, ngoài giá trị tư liệu vô giá, còn có tác dụng động viên cổ vũ rất lớn đối với nhân dân ta trong những ngày đầu cách mạng. Theo hồi ký của đồng chí Phan Nghiêm sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, một số đồng chí được cử ra tổ chức moọt đoàn chiếu bóng dùng một to axe lửa đi từ Bắc và Nam để tuyên truyền, cổ động. Vốn liếng của đoàn chủ yếu có “một máy chiếu bóng Đê-bri 16mm và hai bộ phim Phái đoàn Phạm Văn Đồng tại Pháp”. Máy và phim đều của kiều bào Việt Nam tại Pháp gửi về tặng.
Đoạn hồi ký trên của đồng chí PHan Nghiêm viết : “Chiếc to axe điện ảnh” của chúng tôi được cắt lại ở hầu hết các thị xã, các thị trấn, các ga quan trọng và được móc đi sau khi chúng tôi làm xong nhiệm vụ.
Ở mỗi nơi xe đỗ lại, chúng tôi tổ chức mít tinh giải thích tình hình và chiếu hai bộ phim nói trên. Bãi chiếu thường được chọn ngay cạnh ga, máy đặt trên to axe lửa chiếu xuống. Phim vừa hết, còi tàu vang lên và đoàn tàu kéo chúng tôi đi giữa tiếng vỗ tay lưu luyến của đồng bào.
…Nhiều nơi đồng bào Kinh cũng như Thượng được tin Đoàn chiếu bóng của Chính phủ Trung ương đi qua kéo nhau từng đoàn vượt qua hai, ba chục cây số, chầu chực hàng hai, ba ngày để được thấy hình ảnh Bác Hồ và cờ đỏ sao vàng tung bay trên đất Pháp.
Có những buổi chiếu đông chật ních và bãi rộng hàng năm sáu nghìn người xem. Nhiều nơi, theo yêu cầu của đồng bảo đã phải chiếu đi, chiếu lại hai , ba lần liên tiếp trong một đêm. Nhiều địa điểm đã tổ chức chiếu phim lượt vào , đến khi đoàn ra đồng bào lại yêu cầu cắt toa ở lại chiếu thêm nhiều buồi để được thoả lòng mong thấy Bác.
Từ đầu đến cuối bộ phim, mỗi khi hình ảnh Bác hiện lên, những tràng vỗ tay, reo hò vô cùng sung sướng của đồng bào lại nổi lên như sấm còn át cả tiếng thuyết minh.
Có lẽ hình ảnh Bác Hồ Kính yêu đã đến lần đầu tiên với đồng bào miền Nam, gần gũi, sinh động và vô cùng cảm động trong những buối chiếu bóng lịch sử này…
Bên cạnh hoạt động của đội chiếu bóng đầu tiên đó, cả mạng lưới chiếu bóng tư sản Pháp ở Thủ Đô Hà Nội và một số tỉnh vẫn tiếp tục chiếu những phim ở các nước phương Tây nhập vào có lựa chọn về nội dung, để tài theo sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng. Trong số những phim được chiếu mạng lưới này, có bộ phim Liên Xô Pa-sa bảo vệ tổ quốc do hãng phim “Phim và xi-nê-ma Đông Dương” nhập, gây được ảnh hưởng tốt đối với một số trí thức thanhniên Việt Nam lần đầu tiên được tiếp xúc với nghệ thuật điện ảnh xã hội chủ nghĩa qua bộ phim này.
Trở lại với hoạt động quay phim của bộ phần điện ảnh đầu tiên, một số nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh Việt Nam cho biết, trong thời gian 1945-1946 ta có quy được một số đoạn: Hồ Chí Minh từ Pháp trở về, (1946), Pháp tấn công phố Hàng Than (1946), trận đánh tại Ô Cầu Dền (1946),v.v… Những sau đó, ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, chiến sự lan rộng nhanh, những thước phim này chưa kịp in tráng đã bị mất, nên ngày nay không còn cơ sở để đánh giá những đoạn phim đầu tiên này.
Trong khi những người đi đầu tìm mọi cách vượt qua mọi khó khăn để xây dựng nền điện ảnh Việt Nam thì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Cùng với toàn dân, họ vác lên vai cỗ máy chiếu tháo ở rạp ra nhãn hiệu Pa-tê (Pathé) cũ kỹ nặng nề lên chiến khu. Chiếc máy quay “Ciné-sept” cùng một ít phim được đồng chí Phan Nghiêm mang theo đến các trậng địa của tự vệ nội thành Hà Nội, sử dụng nhưgnx máy chụp ảnh, ghi lại những cảnh chiến đấu, in thành những tấm ảnh thông tin tuyên truyền. Cỗ máy chiếu được mệnh danh là “máy chuống gà lỗ sỹ: vơi schiếc máy quay “Ciné-Sept” đso trở thành vốn liếng đầu tiên để xây dựngcơ sở vật chất – kỹ thuật cho điện ảnh trên chiến khu Việt Bắc. Từ đây bắt đầu những cố gắng, tìm tòi để quay những thước phim đầu tiên ở Việt Bắc..
Theo đồng chí Cao Thành Nhơn cho biết, ngày 2-9-1945 ở Sài Gòn có quay phim những vì chiến sự bùng nổ bùng nổ quá sớm nên phim không giữ được. Khu 8 đi đầu trong việc xây dựng ngành điện ảnh. Đầu tiên là một cuộc triển lãm ghi lại những thành tích chiến đấu của Tổ Nhiếp ảnh khu 8. Cùng đồng chí Mai Lộc, dồng chí Khương Mễ trước đây có tham gia các nhóm quay phim ở Sài Gòn hồi 1940-1942 và một số đồng chí từng làm công nhân tráng phim, nhiếp ảnh,v.v… tập hợp lại, phần công nhau vào Sài Gòn mua máy quay, nghiên cứu cách tráng phim. Chiếc máy Kô – Đắc 6mm đầu tiên mua được về không dùng được bao lâu. Sau thời gian quay tập, đồng chí Mai Lộc mang nó đi quy trận phục kích đoàn xe lửa từ Sài Gòn, Mỹ Tho . Đồng chí trúng đạn bị thương, máu và phim rơi xuống hỏng hết. Công việc nghiên cứu in tráng theo lối thủ công vừa đạt kết quả mong muốn thì Pháp lại nhảy dù trúng Tổ điện ảnh, lấy di hết máy móc, thuốc men, phim nhựa, dụng cụ.
Lại phải mua sắm máy quay, tổ chức nơi in tráng phim trên một chiếc thuyền có mui lưu động trong đó đặt phòng tối, dùng nước đá mua từ thành phố về làm lạnh và in tráng phim bằng những guống thủ công.
Trong dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng tám và Quốc khánh 2-9-1945 tiểu đoàn 307 đánh trận Mộc Hoá: phục kích địch từ đồng Mộc Hoá ra đi càn. Mang chiếc máy Pay-a Bô Lếch quay bằng phim trực hình(inversible) – quay xong trang ra thành bản dương ngay – đồng chí Mai Lộc theo bộ đội đi làm phim. Với những cảnh nhân dân mang quà tặng bộ đội hành quân đi đánh giặc, bộ đội ta xung phong, tên đồn trưởng Béc-tơ-răng giơ tay hàng, trại tù binh, máy bay Xpit-phai của địch bay xuống trận địa ta, vv… đồng chí xây dựng được bộ phim Trận Mộc Hoá. Đây là bộ phim tài liệu đầu tiên ở Nam Bộ xây dựng được hoàn toàn do Tổ điện ảnh đảm nhiệm tất cả các khâu từ quay đến in tráng và sau đó có mang chiếu cho đông đảo bộ đội và nhân dân xem.Đồng thời đây cũng là bộ phim đầu tiên của điện ảnh Việt Nam còn lưu trữ được.
Tiếp theo đó “ Tổ Xi-nê khu 9” thành lập vào tháng 4-1949 và điện ảnh khu 7 (Sài Gòn – Chợ Lớn) bắt đầu xây dựng tháng 11-1949. Cùng với những máy quay phim 16mm, phim trực hình và những cơ sở in tráng thủ công đặt trên thuyền hoặc đào sâu xuống lòng đất, dùng chum vại hoặc thùng gỗ làm bể đựng thuốc in tráng…điện ảnh Nam Bộ đi những bước đầu tiên. Sau bộ phim Trận Mộc Hoá (1948), điển ảnh khu 8 quay những phim Chiến dịch Bến Tre, chiến dịch Trà Vinh, Lễ xuất quân trung đoàn 115, BCX (Binh Công Xưởng), Chiến dịch Cao Bắc Lạng (quay các bản đồ chiến dịch để giới thiệu chiến dịch biên giới), Chiến dịch Balan- Cầu Kè (1950), Dân quân đắp cản chống tàu chiến địch, v.v..
Tổ Xi-nê khu 9 hoàn thành phim: Nhà in Kháng địch, Trại thiếu sinh quân, Chiến dịch Sóc Trăng, Xưởng dệt Chị Thơm, Vụ Mùa, Xưởng quân giới khu 9, Hoan nghênh phái đoàn Chính Phủ Trung ươngv.v..
Điện ảnh khu 7 có những phim: Chiến dịch Bến Cát, Trận Bùng Binh, Trận Trảng bang, Trận Rạng Đông, Chiến Khu Đ, Trận Tràng Bomv.v.
Điện ảnh khu 8 còn thí nghiệp làm bộ phim bổ biết khoa học đầu tiên Bệnh lợn đóng dấu, sau đó năm 1952, khu 7 làm phim Kỷ niệm 1 năm Phi-la-tốp.
Những bộ trên đây, vì in tráng theo kiểu thủ công quay bằng phim trực hình, không được bảo quản theo những điều kiện kỹ thuật đầy đủ nên còn giữ lại được quá ít (phim Trận La Ngà quay bằng máy quay 35mm, dài 15 mét, chia làm 3 phần, bị hỏng một phần chưa dựng thành phim,Nhà in kháng địch chỉ có một đoạn, Trận Bến Cát do đồng chí Tô Cương quay nhưng in tráng bị hỏng).
Đầu năm 1951, do tình hình chiến trường có nhiều khó khăn, điện ảnh ba khu 7,8,9 nhập lại thành điện ảnh Nam Bộ về đóng lại tại khu 9 cũ. Lực lượng tập trung về người và máy móc nhưng phim nhựa thiếu nhiều vì giao thông khó khăn. Thời gian này điện ảnh Nam Bộ chủ trương làm những mẩu phim ngắn để rè tay nghề trong đó có phim Đả đảo đế quốc được gọi là “Phim tài liệu, truyện, hoạt hoạ”.
Phim Đả đảo đế quốc (hoặc hết đời đế quốc) không còn đến nay nhưng theo đồng chí Khương Mễ - một trong những người xây dựng phim – thì phim dài 150mét (16mm), thể hiện nội dung: Giặc Pháp tàn bạo cướp sạch, đốt sạch, quân đông, vũ khí nhiều nhưng phải thua quân đội và nhân dân ta. Phần tài liệu chiến đấu thì phim sử dụng các đoạn tư liệu trích trong các phim quay trận Mộc Hoá, Ba Lan, Bến Tre, Cầu kè, Trà vinh. Phần có diễn viên thì nhờ vào lực lưỡng do đồng chí Cao Thành Nhơn (tức Nguyễn Hiền) đóng, Phần hoạt hoạ do các hoạ sỹ Nguyễn Phi và Trần Kiềm phục trách có thể hiện cảnh “lính Pháp đi cướp Pháp bị bắt bỏ vào lọ rồi pháp thăng thiên bắn ra biển Đông”.
Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 (1973) trong dịp tổng kết 20 năm thành lập Điện ảnh Việt Nam hai bộ phim Chiến dịch Cao Bắc Lạng và chiến dịch La Ban – Cầu Kè đã được tặng giải Bông Sen Bạ với lời biểu dương: “Tiêu biểu cho những phim không có tiếng động thuộc giai đoạn đaàu của Điện ảnh Việt Nam”.
Nhận xét về giá trị nghệ thuật những phim đầu tiên này chỉ có thể chủ yếu dựa vào tên phim, vào những đoạn hồi ký và một sô shình ảnh còn lại.
Có thể coi những phim trên là những phim tài liệu mang tính thời sự, có giá trị tư liệu rất cao vì các nhà điện ảnh đầu tiên vủa ta tìm mọi cách để tiếp xúc với thực tế chiến đầu ở tiền tuyến cũng như hậu phương của cuộc kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, ghi chép được những sự việc, bầu không khí vô cùng điển hình của khoảng thời gian lịch sử đó.
Đọc lại những bài hồi ký “những thước phim đầu tiên” (của Mai Lộc), “Tổ Xi-nê khu 9” (của Lê Minh Hiền), “Kỷ niệm về điện ảnh khu 7” (của Tô Cương) và “Những ngày làm phim tại chiến khu Đồng Tháp” (của Khương Mễ), nghe lại những câu chuyện của các đồng chí hoạt động thời đó ở Nam Bộ, có thể thấy rõ sự thôi thúc về tình cảm và lý trí của những người chiến sĩ mong muốn bằng mọi giá chẹp lại những “bức ảnh sống” về những sự kiện của những ngày đầu cách mạng mà bản thân họ đang tham dự, đang mang xương máu ra cùng toàn dân thực hiện. Họ hăng say bám sát trận đánh, bất chấp bom đạn, máy bay địch hoặc ngâm mình trong nước tê cóng chỉ để ghi lại những đoạn phim ngắn bằng những phương tiện vô cùng hạn chế. Họ tìm mọi cách để in tráng những thước phim quý giá bằng thùng gỗ, chậu gỗ, chum vại, lặn lội vào nội thành Sài Gòn do địch kiểm soát để mua máy, mua phim, mua nước đá làm lạnh cho tuốc tráng phim, mua những chất liệu cho thuốc hiện hình…, lập buồng tối trên ghe xuồng lưu động để có thể về gần thành phố, tiện sử dụng nươc đá trong việc tráng phim (khu 8) dưới hầm sâu để tránh địch phá huỷ (khu 7) hoặc chui vào chiếc lu to thay buồng tối để tráng phim (khu 9). Với vốn hiểu biết về nghề nghiệp hầu như ở số không, họ màu mò tìm đọc sách, thí nghiệm sách chiếu bóng bằng đèn măng-sông, in tráng bằng guồng, đến cách quay một số cành xảo thuật sơ đăng nhất. Họ tranh thủ từng giờ từng phút làm sao cho phim quay xong được chiếu thật nhanh, phục vụ kịp thời: phim Trận Mộc Hoá ra mắt Uỷ ban hành chính Nam Bộ và quân đội một tháng sau khi quay, phim Chiến dịch Sóc Trăng được chiếu vào đợt tuyên truyền kết quả chiến thắng ngay khi chiến dịch còn chưa kết thúc.
Đến cuối năm 1951, đế quốc Pháp thất bại lớn ở miền Bắc phải tăng cường hoạt động để cố giữ miền Nam. Miền Tây, nơi trung tâm điện ảnh Nam Bộ đóng trước kia là nơi an toàn nhất của Chiến trường Nam Bộ, nay bị địch càn quét liên tục. Điện ảnh phảiphân tán về các tỉnh đội. Việc làm phim gần như đình trệ. Mặt khác một số cán bộ quan trọng của điện ảnh các khu 7,8,9 cũ đểu đã ra Bắc từ cuối năm 1950 để mang phim ra chiếu, quay phim gửi về Nam và cùng hợp sức xây dựng điện ảnh cả nước. Vì vậy điện ảnh Nam bộ từ năm 1951 chuý yếu chuyển sang chiếu phim ta quay và quay các nước xac hội chủ nghĩa gửi tới sau khu ta mở thông được đường giao lưu với quốc tế. Theo đồng chí Cao Thành Nhơn cho biết, hoạt động chiếu bóng ở Nam Bộ được tổ chức rất sớm. Từ 1945 dến 1953, khu 8 có 7 đội, đồng chí Nguyễn Thế Đoàn cho biết : đội chiếu bóng đầu tiên ở khu 7 thành lập ngày 1-1-1950 hoạt động ở vùng Chợ Lớn, phim có tiếng phải chiếu bằng máy chiếu phim câm, các nhạc sỹ Hoàng Việt và Minh Trị phải đánh đàn theo phim.
Hoàn cảnh hoạt động ở chiến khu Việt Bắc có những đặc điểm khác so với chiến trường Nam Bộ do đó những bước đầu tìm tòi để xây dựng điện ảnh cũng mang những đặc nét rõ rệt. Chiến khu Việt Bắc trước thiết lập ở vùng rừng núi xa hẳn các thành phố lớn, phương tiện giao thông đi vào vùng địch tạm chiếm xa xôi và khó khăn hơn nhiều so với ở Nam Bộ. Mặc khác, Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến cả nước, là nơi Trung ương Đảng và Chính phủ đóng cũng đòi hỏi việc xây dựng điện ảnh phải có tính cơ bản.
Nhiệm vụ quan trọng như vậy vốn liếng máy móc cũng không có gì đáng kể. Ngoài chiếc máy chiếu phim rạp nhãn hiệu Pa-tê và chiếc máy quay phim “Ciné – Sept” không còn có gì hơn. Về mặc cán bộ kỹ thuật, tình trạng cũng như ở khắp nơi, không có một chuyên viên về máy móc điện ảnh. Đồng chí Phan Nghiêm – Người được giao nhiệm vụ phụ trách Điện – Nhiếp ảnh trong Nha tuyên truyền và Văn nghệ (được thành lập tháng 7 – 1950) mới chỉ học qua Trường kỹ nghệ thực hành, chỉ biết điện ảnh nhờ tự tìm tòi sử dụng máy chiếu và quay phim (chủ yếu bấm từng khuôn hình) bằng chiếc máy “Ciné-sept”. Do đó việc chuẩn bị đẻ quay phim những thước phim đầu tiên trên chiến khu Việt Bắc có lâu hơn ở Nam Bộ. Mãi tới chiến dịch Biên giới (Thu đông 150) điện ảnh Việt Bắc mới xuất quân lần đầu tiên. Đồng chí Phan Nghiêm được trang bị một máy chiếu Pay-a Bô-lếch 6mm kèm theo một ống kinh F/50 mm của máy chụp ảnh chân dung kiểu cổ mà đồng chí Phan nghiêm mang theo từ Thủ đo, lắp nối vào máy bằng một ống nhôm để dùng như sống kính tê-lê cùng 10 hộp phim mỗi hộp 39 mét để quay phim Trận Đông Khê – trận mở đầu cho chiến dịch Biên Giới. Vừa phải khắc phục những khó khăn cua rngười chiến sĩ đi đánh đồn, vừa tham gia gọi loa địch vận, vừa chuẩn bị quay phim, đồng chí Phan Nghiêm còn phái đương đầu với những tình huống bất ngờ do máy móc trang bị đơn sơ, chắc vá, những hỏng hóc không có kinh nghiệm nghề nghiệp nên không lường trước được. Mặc dù vậy, phim Trận Đông Khê, ghi được những tư liệu vô cùng quý giá: Đồn Đông Khê cháy dưới hoả lực đại bác của ta, những tên giặc từ hầm ngầm giơ tay ra hàng v.v.. Tiếp đó, đồng chí Phan Nghiêm theo bộ đội, đã quay Trao đổi tù binh tại Thất Khê.
Chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi phá được thế bao vây của giặc. Đường thông thương với thế giới được mở. Điện ảnh cũng có điểu kiện tiếp xúc với thế giới. Phim của Phan Nghiêm quay được mang sang tráng ở Hồng Kông. Gần 300 mét phim 16 mm được in tráng xong mang về nước lại theo đồng chí Phan Nghiêm sang dự liên hoan thanh nên thế giới tại Béc Lanh Cộng Hoà Dân chủ Đức ( 1951). Hai bộ phim tài liệu của điện ảnh Việt Nam quay tại Việt Bắc được dựng ngay trên toa xe lửa liên vận, được điện ảnh Liên Xô giúp in tráng thành nhiều bản trở thành những bộ phim đầu tiên mang những hình ảnh cuộc kháng chiến chống Pháp ra giới thiệu ở nước ngoài trước hơn một triệu thanh niên thế giới.
Trong khi dự Liên hoan, đồng chí Phan Nghiêm cũng đồng thời quay bộ phim tài liệu Hoạt động của đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam trong Đại hội liên hoan thanh niên thế giới tại Béc-Lanh. Đây là bộ phim đầu tiên của điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài.
Ở trong nước, trong thời gian này đồng chí Nguyễn Hồng Nghi – từ nhiếp ảnh chuyển sang – cũng quay được bộ phim tài liệu 16 mm Dân công phục vụ tiền tuyến trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám, những hình ảnh các đoàn dân công gồng gánh, thồ xe đạp, dùng xe trâu trên những con đường ra mặt trận Hà Nam Ninh.
Mùa xuân 1951, Đại hội lần thứ hai của Đảng được triệu tập tại Việt Bắc. Sự kiện trọng đại của cả dân tộc đồng thời cũng là sự kiện lịch sử điện ảnh Việt Nam.
Các nhà điện ảnh Nam Bộ được cử ra Bắc mang phim ra chiếu và quay phim, lần lượt đến nơi. Từ khu 8, các đồng chí Mai Lộc, Nguyễn Phụ Cấn, v.v.. và khu 9 có các đồng chí Lê Minh Hiền, Nguyễn Thế Đoàn,v.v… lực lượng điện ảnh đầu tiên của cả nước được quy tụ và nhờ đó đã ghi lại được nhiều đoạn tư liệu vô cùng về Đại Hội là thứ hai của Đảng, đặc biệt là những thước phim vê Hồ Chủ tịch tại chiến khu Việt Bắc (phần tư lieu quay Hồ Chủ tịch tạ Việt Bắc chủ yếu là do đồng chí Lê Minh Hiền quay được nhằm thực hiện nhiệm vụ mang hình ảnh Bác Hồ về cho đồng bào miền Nam thoả lòng mong ước được thấy Bác.)
Cuộc kháng chiến chống Pháp trên đà Thắng Lợi. Nước ta lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện cho điện ảnh Việt Nam tiếp nhận những sự giúp đỡ của bạn bè, anh em trên thế giới. Từ những thước phim còn mang tính nghiệp dư, hoạt động điện ảnh bắt đầu chuyển sang những hình thức có tính chuyên nghiệp.
Liên Xô tặng ra 2 máy chiếu : 1 máy 35mm và 1 máy 16 mm.
Chủ tịch C.Gốt Van (Tiệp Khắc) tặng Hồ chủ Tịch bộ máy chiếu phim tại liên hoan thanh niên thế giới.
Đội chiếu bóng quân đội được thành lập với bộ máy chiếu 35mm Liên Xô và chiếc máy nổ chiến lợi phẩm phục vụ ở Việt Bắc với một số bộ phim như Trao đổi tù binh Thất Khê không có tiếng do đồng chí Phan Nghiêm quay, một số bộ phim Liên Xô (trên đồi Ma – La- khốp, Anh Hùng Ma-tơ-xốp, anh hùng phi công Ma-rét-xép) và một vài phim của các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tại Nam Bộ, một đơn vị được trang bị bằng bộ máy Vích –to và chiếc máy nổ chiến lợi phẩm chiếu phục vụ các đơn vị bộ đội và đồng bào với những phim ở các khu tập trung lại từ Việt Bắc gửi vào như: Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam, Hồ chủ tịch thăm dân công, Lênin hồi tháng Mười, Nước Cộng hoà U-crai-na, Nước cộng hoà Ac-mê-ni,v.v…
Năm 1952,bộ phim tài liệu đầu tiên quay bằng phim 35mm Chiến Thắng Tây Bắc được đồng chí Mai Lộc thực hiện là một bước mới của tài liệu Việt Nam tiến lên trình độ hoàn chỉnh, nhờ có những diễn biến chủ quan và khách quan mới.
Sau một thời gian làm phim, các nhà điện ảnh đầu tiên của Việt Nam dần dần nhận thấy lòng hăng say đến tận trận địa ghi lại những người, những việc anh hùng, bảo đảm đưa những hình ảnh đó đến với những người xem trong một thời gian ngắn vẫn chưa thoả mãn những yêu cầu về mặt nghệ thuật luôn thôi thúc họ. Xuất hiện những phương hướng tìm tòi mới. Và hoàn cảnh khác quan lúc đó cũng giúp họ bắt đầu thực hiện ý đồ tìm tòi mới đó.
Một số phương tiện như máy quay và phim sống 35 mm được bạn bè giúp đỡ, kinh nghiệm làm phim tài liệu rút ra từ việc hợp tác với một số nhà điện ảnh Trung Quốc sang cùng quay bộ phim Việt Nam kháng chiến lúc đó, sự tiếp xúc đầu tiên với những phim ảnh các nước xã hội chủ nghĩa – những yếu tố đó tất nhiên cũng có tác động đến những người làm phim Việt Nam. Tác động này có thể thấy rõ qua những chuyển biến mới trong bộ phim tài liệu Chiến thắng Tây Bắc. Từ những mẫu phim tài liệu ngắn mang tnhs thời sự hoặc những đoạn tư liệu ghi chép lại một số cảnh trong một trận đánh, những hình ảnh sống về sinh hoạt nhiều mặc trong kháng chiến, phim Chiến thắng Tây Bắc có đọ dài tới 8 cuốn phim (35mm) mở đầu cho những phim có nội dung khái quát từng giai đoạn lớn, có nhiều hình ảnh phong phú, phản ánh cuộc kháng chiến trong phạm vi từng địa phương lớn, phục vụ cho những chủ trương lớn. Cách làm phim tài liệu dài tổng hợp cố gắng ghi chép thật nhiều sự việc, con người thể theo trình tự thời gian đủ mọi mặc: từ địa lý, kinh tế đến chính trị, từ tuyến đến hậu phươngv.v… biểu lộ rõ trong phim Chiến thắng Tây Bắc. Lời thuyết minh cũng mang tính chất vừa giải thích, vừa kêu gọi động viên – Lối tiếp thu đowcj trong quá trình hợp tác làm phim Việt Nam kháng chiến. Tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai (1973). Phim Chiến thắng Tây Bắc được giải Bông sen vàng.
Đầu năm 1953, cùng với đà thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, tình hình điện ảnh Việt Nam, với việc xây dựng phim Chiến thắng Tây Bắc, đã phát triển chín muồi để có thể chính thức thành lập một tổ chức có tính chất tập trung toàn diện trong phạm vi cả nước nhằm phát huy những thành tựu bước đầu đã đạt được, xây dựng trên nền nghệ thuật điện ảnh dân tộc phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Ngày 15-3-1953 trên chiến khu Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 147/SL quyết định đặt phòng Điện – Nhiếp trong Nhà tuyên truyền và Văn nghệ thành một doanh nghiệp quốc gia lấy tên là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam”…
Sắc lệnh 147/SL quy định cho Điện ảnh và Nhiệp ảnh Việt Nam 4 nhiệm vụ:
1. Tuyền truyền chính sách chủ trương của Chính phủ
2. Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và dân Việt Nam.
3.Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh kiên quyết của nhân dân các nước bạn.
4. Giáo dục băn hoá và chính trị cho nhân dân.
Từ đó ngày 15-3-1953 được coi như ngày chính thức khai sinh ra nên điện ảnh dân tộc (cũng như ngành nhiếp ảnh Việt Nam). Mặc dù tên gọi đầu tiên được quy định trong Sắc Lệnh 147/SL là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh” nhưng 4 nhiệm vụ đặc biệt các nhiệm vụ 1,2 và 4 được đề ra cho những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc rõ rang có bao hàm công việc sản xuất, sáng tác phim vì chỉ có phim ảnh do các nghệ sỹ Việt Nam sáng tạo, phản ánh thực tế chiến đấu xây dựng ở Việt Nam mơi có thể là cơ sở đầy đủ đúng đắn nhất, hoàn chỉnh nhất cho công tác tuyên truyền, động viên, giáo dục nhân dân Việt Nam.
Tính chất lịch sử của Sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký ngày 15-3-1953 đánh dấu cột mốc ra đời của ngành điện ảnh Việt Nam là ở chỗ văn kiện này là sự xác nhận chính thức đầu tiên về mặt pháp lý sự hình thành một tổ chức điện ảnh Nhà nước của Chính quyền Trung Ương, từ đó tạo ra những điểu kiện cơ bản để đưa những hoạt động điện ảnh lẻ tẻ còn mang tính chất tự phát, địa phương nghiệp dư vào một tổ chức có tính chất chuyên nghiệp, thống nhất cả nước với một sự chỉ đạo tập trung, với những nhiện vụ thống nhất, tạo điểu kiện để tập hợp, đào tạo, bổ sung, hoàn chỉnh đội ngũ cán bộ nhiều mặt, nhiều bộ môn điện ảnh, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho sự nghiệp điện ảnh dân tộc, phát huy đầy đủ hiệu lực của sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em tới.
Khu Đồi cọ thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên – nơi làm việc của phòng điện ảnh – Nhiếp ảnh cũ trở thành chiếc nôi ra đời của điện ảnh Việt Nam.Bắt đầu là những chiếc buồng tối đóng bằng ván trong đặt những guồng tráng phim thủ công đóng bằng gỗ. Tiếp đó, một chiếc máy in phim chế biến từ một máy chiếu phim 16mm bắt đầu hoạt động …Phong trào thi đua yêu nước lên cao cùng với tin thắng trận dồn dập từ các mặt trận đưa về. Ngành điện ảnh mới chính thức thành lập nhộn nhịp hoạt động trong không khí chung của cả nước. Đồng chí Phạm Văn Khoa – một trong những người đầu tiên xây dựng nền điện ảnh Việt Nam đã miêu tả quang cảnh Đồi Cọ trong những ngày này như sau: “ Thời kỳ này, khu điện ảnh nhộn nhịp hẳn lên. Sáu mươi lăm chiếc nàh lá làm trên ba quả đồi ở rừng Cọ Việt Bắc ngày cũng như đêm, không lúc nào ngớt tiếng động cơ phát điện. Các bộ phận in tráng, thu thanh, máy chiếu, máy nổ, máy phóng thanh thi đua với nhau góp công, góp sức xây dựng ngành điện ảnh.”
Tuy vậy máy của ta mới chỉ in được phim 16mm câm. Phim Chiến thắng Tây Bắc 35mm có iếng động phải gửi ra nước ngoài in tráng. Vấn đề cấp bách đầu tiên cần giải quyết là phải in được phim có tiếng. Chủ trương sản xuất phim có tiếng giữa rừng Việt Bắc vào thời gian đó là một chủ trương thật táo bạo vì muốn thực hiện được việc đó cần có máy ghi âm quang tính vào phim. Đây là một loại máy vi tính, phức tạp, đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao của nhiều ngành chuyên môn cùng phối hợp chế tạo. Trong khi đó lực lượng cán bộ kỹ thuật điện ảnh của ta chưa có hiểu biết gì về thiết kế loại máy này, thậm chí chưa hình dung được thực tế toàn bộ máy ra sao. Khó khăn tưởng chừng không sao vượt nổi. Những trong khí thế chung của cả nước đang mang hết sức cho chiến dịch Điện Biên lịch sử và trong niềm hân hoan được thấy sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Chính phủ đối với ngành điện ảh thể hiện qua sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký giữa lúc Người đang bận giải quyết biết bao côgn việc bộn bề, trọng đại của dân tộc, những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc đều có chung mộ tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người ảnh dân tộc đều có chung một tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trogn một bài hồi nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trong một bài hồi ký, đồng chí Phan Nghiêm viết : “ Mỗi chúng ta đều như được chắp cánh bay lên. Một niềm tin phấn khởi tin tưởng dạt dào dâng lên khắp khu Đồi cọ là nơi chúng tôi xây dựng điện ảnh tại chiến khu Việt Bắc”.
“…Những lời của Bác Hồ về tinh thần tự lực cánh sinh mà tôi được may mắn nghe Bác nói trong Đại hội chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất- hồi đó tôi và một số anh em làm công tác điện ảnh được đến Đại hội về quay phim – cùng với những gương sáng ngời của các anh hùng chiến sĩ thi đua trong Đại hội đã mang đến cho tôi niềm tin tưởng và quyết tâm vượt mọi khó khăn, chế tạo kỳ được chiếc máy mà toàn ngành đang mong đợi”.
Với niềm tin tưởng và quyết tâm đó, với sự giúp đỡ tận tình của tập thể, suốt hơn bốn tháng trời đồng chí Phan Nghiêm miệt mài vừa học tiếng Anh vừa nghiên cứu sách về kỹ thuật thu thanh (bằng tiếng Anh), vừa làm nhiệm vụ công nhân cơ khí, thu lượm các chi tiết máy cũ, thậm chí cả vở đồ hộp thu được của lính Pháp (để làm vỏ hộp máy) quyết chế tạo bằng được bộ máy ghi âm quang tính.
Sự ra đời của đứa con đầu lòng của ngành cơ khí điện ảnh Việt Nam – chiếc máy ghi âm quang học tự học mang tên “tự cường 1” được đồng chí Phan Nghiêm kể lại như sau:
“Thế rồi trong một đêm cuối mùa thu năm ấy, sau khi bấm nút cho máy cahỵ tôi vô cùng xúc động nói trước mi-crô để ghi lời nói của mình vào phim.
Những thước phim có tiếng đầu tiên được nối thành một vòng vô tận lắp vào một máy chiếu phim.
Điều thần kỳ mong đợi bấy lâu nay đã đến: tiếng nói trong phim phát ra làm vang dội cả khu rừng đang chìm trong bóng đêm. Anh em khu Đồi Cọ bừng tỉnh lắng nghe tiếng nói được ghi vào những thước phim có tiếng đầu tiên bằng chiếc máy ghi âm quang học tự chế của ngành điện ảnh Việt Nam.”
Bộ phim đầu tiên trong đó lời thuyết minh, nhạc nền và tiếng động được ghi bằng “ Tự cường I” cũng là bộ phim ghi lại sự kiện đã thôi thúc Phan Nghiêm sáng chế ra chiếc máy. Đó là phim Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (phim 16mm). Những người xem phim thính tai đã phát hiện ra cả tiếng muông thú và côn trùng của núi rừng Việt Bắc lẫn trong tiếng nhạc và lời thuyết minh tỏng bộ phim lịch sử này. Những tạp âm nói lên sự thiếu sót trong buổi trường thành đó không hề làm nản lòng những người đi đầu xây dựng điện ảnh Việt Nam mà trái lại còn tạo cho họ những ấn tượng sâu sắc về những ngày hoạt động sáng tạo sôi nổi cho ngành điện ảnh dân tộc.
Tiếp theo đó, sau ngày hoà bình lập lại, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, tại thủ đô Hà Nội, Phan Nghiêm chế tạo tiếp “tự cường 2” – máy ghi âm quang tính vào phim 35 mm, rồi máy “ tự cường 3” hoàn chỉnh hơn và cả một loạt trang bị tự chế cho một dây chuyền sản xuất phim 35 mm có tiếng : khung và bộ tráng phim, tủ sấy phim, bàn hoà âm, bàn dựng phimv.v…
Trong khi Phan Nghiêm say sưa sáng chế máy “Tự cường 1” thì các đoàn quay phim cũng lên đường vào vùng địch hậu và ra mặt trận ghi chép những hình ảnh cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân Việt Nam đang tiến tới thắng lợi.
Giữ làng giữ nước – bộ phim tài liệu 16mm, dài 4 cuốn quay về cuộc sống chiến tranh du kích tại vùng địch tạm chiếm trên tả ngạn sông Hồng do đạo diễn kiêm quay phim Mai Lộc và các nhà quay phim Quang Huy, Trần Quốc Ân, thực hiện tiếp tục chiều hướng khái quát một vấn đề lớn mà phi Chiến Thắng Tây Bắc đã mở đầu. Phong cách làm phim chiến đấu của những bộ phim tài liệu ngắn đầu tiên được phát huy qua công phu vượt mọi nguy hiểm, khó khăn lọt hẳn vào vùng địch tạm chiếm và qua tinh thần của những người làm phim tìm mọi chách tiếp vận với tài liệu, trực tiếp ghi chép những hình ảnh chân thực làm cơ sở vững căhcs cho bộ phim có được sức thuyết phục mạnh mẽ và sức khái quát cao. Hình tượng cuộc chiến tranh du kích mang tính toàn dân tộc được thể hiện khá sinh đọng qua những thước phim ghi được sinh hoạt quen thuộc đã trở thành nếp sống hành ngày trong khu du kích nhưng thực sự vượt qua khỏi ức tưởng tượng cảu những người chỉ bieét sống trong hoàn cảnh hoà bình, lao động bình thường. Ống kính ghi chép – nhiều khi về mặt kỹ thuật ánh sáng, cắt khuôn hình còn quá thô sơ nhưng khá chân thực mộc mạc, không tô vẽ - từ hoạt động của nhân dân vừa sản xuất vừa xây dựng làng chiến đấu, những trận chiến đấu chống càn, thực hiện cải cách ruộng đấtv.v… Phong cách mộc mạc đó tạo cho những cảnh tố cáo tôi ác giặc (xác cô gái nôn dân bị giặc đi càn bắn chết, xương người đào được trong bốt Huyết Trụ sau khi giặc bỏ chạy) có sức thuyết phục mạnh mẽ nhờ đó bộ phim có cơ sở vững chắc để lý giải về ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân, về đường lối đúng đắn và vai trò lãnh đạo quyết định của Đảng trong việc phát động cuộc chiến tranh du kích toàn dân. Những cảnh nhân dân thực hiện “ Vườn không nhà trống” cất giấu thóc lúa, gà lợn tự động chạy xuống hầm bí mật, trở thành những đoạn phim giáo khao bổ ích về cuộc chiến tranh du kích đồng thời cũng nêu bật lên ý chí quyết tâm của nhân dân ta không chịu khuất phục trước bạo lực của giặc xâm lược. Đặc biệt đoạn phim trực tiếp quay cảnh du kích đánh mình lật đổ đoàn tàu hoả quân sự chở xăng đàu của địch trên đường số 5 mà nhà quay phim Quang Huy thực hiện được với mưu trí và lòng dũng cảm và sự giúp đỡ tận tình của các chiến sĩ và nhân dân vùng tạm chiếm, có giá trị tư liệu lịch sử không kém gì những đoạn phim được quay trong các cuộc chiến đấu của điện ảnh tài liệu Liên Xô, Pháp, v.v… đã nổi tiếng trong điện ảnh thế giới. Toàn bộ hình ảnh đoạn phim này ghi được từ khi đoàn tàu chở dầu quân Pháp lao vào nơi bố trí mìn, bị mình nổ lật tung, những toan xe chồm lên nhau, lăn xuống vệ đường, lửa bốc cuồn cuộn, khó bốc cao thành hình nấm khổng lồ… được đạo diễn R. Các men (Liên Xô) trích sử dụng trong phim Việt Nam trên đường thắng lợi của ông. Giá trị lịch sử của phim Giữ làng giữ nước còn có ý nghĩa đặc biệt trong nền điện ảnh dân tộc, vì đây là bộ phim thứ hai có tiếng động, lời thuyết minh ghi bằng chiếc máy “Tự cường” do điện ảnh Việt Nam chế tạo. Phim Giữ làng giữ nước được tặng giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim lần thứ 2 (1973).
Trong khi đoàn làm phim Giữ làng giữ nước đi vào vùng địch ghi lại hình ảnh cuộc chiến tranh du kích thì một đoàn khác gồm có đồng chí Nguyễn Tiến Lợi, Nguyễn Hồng Nghị, Nguyễn Phụ Cấn, Nguyễn Quý Lục, Nguyễn Đăng Bẩy, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Như Ái, Nguyễn Thụ… được cử lên Điện Biên Phủ thắng lợi. “Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” của dân tộc Việt Nam cũng đồng thời cung cấp cho những người làm phim chất liệu thực tế, một cảm xúc vô giá để thực hiện bộ phim đánh dấu cột mốc mới trong lịch sử điện ảnh ta: phim tại liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ (35mm).
Với một tập thể làm phim khá đông đảo chia làm nhiều đội nhỏ phối hợp chặt chẽ với nhau, đoàn làm phim Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi lại nhiều hình ảnh chân thực, nhiều tư liệu sống động có giá trị lịch sử về sự kiện quan trọng có tầm quyết định trong sự nghiệp chiến đấu chống quân xâm lược Pháp giải phóng dân tộc, có tiếng vang rộng lớn trên toàn thế giới. Những toàn cảnh giao thông hào quân ta chẳng chịt bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên, cảnh cắm cờ trắng ra hàng v.v..Đã vượt ra ngoài phạm vi những cảnh trong một bộ phim tài liệu và trở thành tư liệu có một không hai có thể dùng làm để tài sáng tác, làm chất liệu gợi ý cho các nghệ sỹ sáng tác thuộc nhiều thế hệ sau trong các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau.
Bên cạnh những giá trị tư liệu lớn lao có được nhờ viết tiếp tục phát huy cách làm những phim tài liệu trước đó, phim Chiến thắng Điện Biên Phủ còn nổi bật ở giá trị chính luận toát ra từ lời bình, giải thích, chứng minh kèm theo những hình ảnh sinh động như: Hồ Chủ tịch đến thăm, nói chuyện với bộ đội trước khi chiến dịch bắt đầu, Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam bàn bạc quyết định mở chiến dịch, các chiến sỹ đọc thư bài nhà báo tin phát động cái cách ruộng đất v.v.. nhờ đó nâng tầm nhận thức của người xem, giúp họ khái quát được cả một quá trình “9 năm làm một Điện Biên”, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa tiền tuyến với hậu phương dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Lãnh tụ với những kỳ tích chiến đấu mà quân đội để có thể đánh giá phim chiến thắng Điện Biên Phủ như một cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của nền điện ảnh dân tộc đó là giá trị nghệ thuật cao của tác phẩm này bộ lộ qua hình tượng người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cchống Pháp thực hiện rực rỡ, sâu sắc, hoàn chỉnh. Hình tượng người chiến sĩ đó rực sáng trên nền cuọc chiến tranh nhân dân do toàn Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Yếu tố nghệ thuật đó có được, một phần lớn nhờ có sự xúc động thực sự của những người cầm máy quay trong tập thể tác giả bộ phim. Tự bản thân nhiều cảnh riêng biệt của từng nhà quay phim tham gia xây dựng tác phẩm Chiến thẳng Điện Biên Phủ cũng đã đạt tới giá trị nghệ thuật cao. Đó không phải là những bức ảnh sao chép những sự việc diễn ra trước ống kính mà trong những cảnh phim này còn chứa đựng tâm hồn xúc cảm, các đánh giá thái độ và tình cảm của người cầm máy bay. Sức truyền cảm mạnh mẽ toát ra hâu như từ mọi cảnh phim: bộ đội kéo pháp qua núi, văn công biểu diễn ngoài chiến hoà, chiến sỹ đọc thư Bác trước giờ xuất kích, những nét mặt, bàn tay chiến sỹ đào hào giao thông vây quanh Điện Biên Phủ. Cái đẹp của người chiến sĩ quân đội toả ra những cảnh ghi lại lòng dũng cảm, sức cố gắng phi thường, tình yêu đất nước, yêu quê hương, yêu lãnh tụ, tinh thần chiến đấu ngoan cường mà tập thể tác giả phim truyền đạt với cả tấm lòng trân trọng tới người xem qua cận cảnh nêu bật nét mặt,cặp mắt, cánh tay hoặc qua những toàn cảnh rộng lớn, hùng vĩ quanh cánh đồng Mường Thanh, núi rừng Tây Bắc.
Với giá trị tư liệu, chính luận và nghệ thuật cao phim tài liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ là tác phẩm tổng kết cả một giai đoạn phát triển đầu tiên của điện ảnh dân tộc Việt Nam trưởng thành trong chiến đấu, luôn bám sát thực tế cách mạng ở những nơi sôi sục nhất của cuộc sống, luôn phát huy tinh thần tự lực tự cường, vượt mọi khó khăn, thiếu thốn, nguy hiểm vươn lên những thành tựu mới về mặc nghệ thuật. Phim Chiến thắng Điện Biên Phủ được tặng Bông sen Vàng trong dịp tổng kết sáng tác 20 năm thành lập ngành điện ảnh tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai (1973). Vì Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với nhiệm vụ giáo dục truyền thống chiến đấu cho Quân đội, về sau, các nhà điện ảnh Quân đội đã sử dụng tư liệu trong phim Chiến thắng Điện Biên Phủ để dựng lại bộ phim Kỷ niệm mười năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (có đề cập trong phần điện ảnh Quân đội).
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết. Tại miền Nam, trong thời gian bộ đội và cán bộ ta thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ tập kết ra Bắc, đồng chí An Sơn đã quay được bộ phim tài liệu Nam đất miền Nam về sự kiện này.
Miền Bắc Việt Nam được giải phóng tạo điểu kiện thuận lợi cho việc phát triển điện ảnh thành một ngành nghệ thuật độc lập, hoàn chỉnh gồm đủ các thành phần nghệ thuật, kỹ thuật và kinh tế.
* Bối cảnh chung của quá trình phát triển điện ảnh cách mạng (1954-1975)
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã tạo điều kiện quyết định cho việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ, giải phóng hoàn toàn miền Bắc. Một nửa đất nước đã có hoà bình, toàn dân ta bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc để đi lên chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho đồng bào miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà.
Bối cảnh lịch sử hết sức có ý nghĩa này là một luồng sinh khí mạnh mẽ tác động sâu sắc đến sự phát triển của các lĩnhvực văn học nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật điện ảnh.
Công cuộc xây dựng hoà bình đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để toàn ngành điện ảnh tổ chức thực hiện một cách có hiệu quả nội dung Sắc lệnh 147/SL về việc thành lập Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh Việt Nam được chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 15/3/1953 tại chiến khu Việt Bắc.
Đây là thời kỳ mà nền điện ảnh nước nhà tập trung mọi nỗ lực để kiện toàn bộ máy quản lý vĩ mô, xây dựng cơ sở sản xuất phim tại Thủ Đô Hà Nội và mạng lưới phát hành phim, chiếu bóng trong toàn quốc:
Năm 1956, tổ chức điện ảnh được tách riêng làm hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam. Cũng trong thời gian này, Cục Điện ảnh được thành lập để chỉ đạo sự hoạt động thống nhất trong toàn ngành.Năm 1957 báo Điện ảnh được ra đời, là cơ quan ngôn luận của ngành nhằm giới thiệu những thành tựu điện ảnh trong và ngoài nước, cũng như tuyên truyền phổ biến kiến thức điện ảnh đến người xem phim. Năm 1959, Trường Điện ảnh Việt Nam, Nhà máy cơ khí điện ảnh, Xưởng phim hoạt hình và búp bê Việt Nam, Xưởng phim thời sự, tài liệu Trung ương lần lượt ra đời. Và cũng trong năm này, bộ phim Chung một dòng sông được chính thức ra mắt người xem. Đó là một tác phẩm được coi như là một bộ phim truyện đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng và cho đến nay bộ phim Chung một dòng sông vẫn giữ vị thế một tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam.
Sự hấp dẫn của một nền nghệ thuật trẻ trung đầy sức sống với hiện thực lớn lao của đất nước đã thu hút đông đảo các nhà văn, nhà hoạt động văn hoá, các chiến sỹ trong lực lượng vũ trang nhân dân, các chàng trai cô gái có năng khiếu nghệ thuật ở thành thị và nông thôn. Các nhà văn có tên tuổi như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân, Tô Hoài… đã dành nhiều tâm huyết cho loại hình chọn vào các lớp đào tạo năng khiếu của Trường Điện ảnh Việt Nam và được gửi đi đaoà tạo ở nước ngoài. Lớp nghệ sỹ điện ảnh được trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp và những năm đầu tiên đầy tài năng, đấy dấn thân của nền điện ảnh nước ngoài. Như vậy, chỉ trong vòng 10 năm trời, nền điện ảnh non trẻ của chúng ta đã có thể sản xuất được tất cả các thể loại: Phim truyện, phim tài liệu, phim phổ biến khoa học và phim hoạt hình. Trong đó có những bộ phim xuất sắc được trao thưởng cao tại các liên hoan phim Quốc tế và trong nước, được người xem đón nhận nồng nhiệt.
Cũng trong hơn 10 năm ấy, những sáng tác điện ảnh của thế hệ đầu tiên đã bám sát thực tiễn cách mạng, phản ánh một cách sinh động công cuộc xây dựng cuộc sống mới ở một nửa đất nước vừa trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm và cuộc đấu tranh sục sôi ý chí cách mạng của đồng bào miền Nam chống Mỹ và tay trái trên tiền tuyến lớn. Điều kỳ diệu là các tác phẩm xuất sắc trong thời kỳ này đã luôn được thể hiện sinh động, mang đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc và dấu ấn thời đại. Có thể nói yếu tố tư tưởng và nghệ thuật được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau đã mang đến cho người xem những cảm thụ sâu sắc, những suy ngâm đồng điệu.
Và cũng trong hơn 10 năm này, mạng lưới phát hành phim và chiếu bóng đã được xây dựng hoàn chỉnh từ Trung ương đến cấp huyện và lưu động đến cấp xã. Những con số thống kê vào năm 1964, năm đế quốc Mỹ bắt đầu tiến hành chiến tranh phá hoại ở miền Bắc bằng sự kiện vịnh Bắc Bộ (ngày 5/8/1964), cho thấy, mặc dù, trong điều kiện vừa hoà bình vừa chiến tranh, cả nước (miền Bắc) đã có: 336 đơn vị chiếu bóng, thực hiện được 113.316 buổi chiếu phục vụ 72.414.720 lượt người xem, tính bình quân mỗi người dân được xem 4,37 lượt/năm.
Sự hình thành đội ngũ, việc sáng tác tác phẩm điện ảnh và phổ biến trong giai đoạn từ năm 1954 – 1965 là cột mốc quan trọng, là những trang vàng trong lịch sử điện ảnh nước nhà. Đây là giao đoạn cả nước trực tiếp đánh Mỹ và bọn chư hầu, tay sai ở miền Nam, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của chúng ở miền Bắc.
Cả nước nó chiến tranh, Khẩu hiệu “ Tất cả cho tiền tuyến” là mệnh lệnh thiêng liêng đối với mỗi người Việt Nam yêu nước. Miền Bắc vừa là tiền tuyến đánh Mỹ vừa phải xây dựng hậu phương để cung cấp sức người, sức của cho miền Nam. Chủ nghĩa anh hùng cách mạng được khơi dậy trong mọi lứa tuổi, trong mọi ngành nghề, trong mọi địa phương, trong mọi quân binh chủng của cả nước.
Hoà trong nhịp sống khẩn trương, hào hùng, cam go và quyết liệt ấy, nhiệm vụ cao cả của văn học nghệ thuật nói chung và nghệ thuật điện ảnh nói riêng tập thể cá nhân anh hùng và cao hơn là tinh thần độc lập dân tộc, ý chí quật cường của một đất nước đứng ở tuyến đầu chống ngoại xâm, chống chủ nghĩa đế quốc vì sự giải phóng con người của thế kỷ XX. Những giá trị ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định ngay trong những ngày đầu của Đảng, toàn dân và toàn quân ta đương đầu với những cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh leo thang phá hoại bằng không quân và hải quân ở Miền Bắc của đế quốc Mỹ:… “Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố , xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, Không có gì quý hơn độc lập tự do…”. (Lời kêu gọi toàn quốc chống Mỹ cứu nước của Hồ chủ tịch).
Toàn thể cán bộ, nghệ sỹ, công nhân viên của điện ảnh Việt Nam hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Bác bằng một cuộc ra quân rầm rộ.
Nhiều nhà làm phim, phổ biến phim ưu tú được cử vào miền Nam để bổ sang cho Điện ảnh Giải Phóng và Điện ảnh Quân Giải phóng. Những mũi quay phim chiến trường không những có mặc ở các chiến dịch lớn mà còn bám sát các địa bàn giáp ranh kịp thời phản ánh cuộc chiến đầu hào hùng bằng cả ba thứ quân của lực lượng cách mạng. Chính vì thế mà mạng lưới sáng tác điện ảnh và chiếu phim đã hình thành đến cấp khu, cấp tỉnh như: điện ảnh khu V, khu VI, điện ảnh Trị Thiênv.v… Năm 1968, trong cuộc tổng tấn công và nổi dậy cảu quân và dân ta dịp tết Mậu Thân, điện ảnh Giải Phóng đã đột nhập vào Sài Gòn chiếu phim tại một rạp lớn khiến bọn địch không kịp trở tay.
Ở miền Bắc cũng hình thành nhiều mũi làm phim tài liệu – thời sự ở các ngành và các địa phương như: Điện ảnh Hải Phòng, Điện ảnh Giao thông vận tải, Điện ảnh Bộ đội biên phòng, Điện ảnh Công an Nhân dân, Điện ảnh Công an nhân dân vũ trang, Điện ảnh Hà Nộiv.v..
Phim tài liệu thời sự đã chứng tỏ sức sống và sức bật kỳ diệu khi các nhà làm phim bám sát bước chân hnàh quân và tác chiến của người chiến sỹ trên các trận tuyến đánh giặc và cả của cả những người công nhân, nông dân, trí thức vừa phục vụ, vừa tham gia chiến đấu ở hậu phương. Một loạt phim mà tên gọi nóng hổi chiến sự đã ra đời như: Dòng sông quê hương, Chiến Thắng Dương Liễu – Đèo Thông, Trong lòng chảo Khe Sanh, Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Người Hàm Rồng, Trận địa mặt đường,… đã có giá trị phục vụ thiết thực bộ đội và nhân dân ta.
Phim truyện đã có những biến chuyển mạnh mẽ cả bề rộng lẫn bề sâu, cả nội dung tư tưởng lẫn chất lượng nghệ thuật. Nếu như ở cuối giai đoạn 1954 -1965, điện ảnh phim truyện của ta mới đề cập đến những mảng để tài chiến tranh cách mạng và chiến tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh thống nhất nước nhà bằng các phim : Chung một dòng sông, Con chim vành khuyên, Vợ chồng A Phủ, Kim Đồng, Chị Tư Hậu, Người chiến sỹ trẻv.v… thì thời kỳ này có thêm mảng phim về đề tài xây dựng cuộc sống mới, giải quyết vấn đề “ai thắng ai” trong quan hệ sản xuất, trong tư duy của con người trước thời đại. Đó là các phim Người về đồng cói, Than, Hoa Thiên lý, Truyện vợ chồng anh Lực.
Thể loại phim truyện ngắn cũng được sáng tác thử nghiệm. Tuy thành công còn khiêm tốn nhưng trong đó là bước đi đáng khuyến khích. Thể loại này phù hợp với điều kiệ đất nước có chiến tranh, có thể phản ánh kịp thời con người, sự kiện đột phá của cuộc chiến và tạo cơ hội cho những nhà làm phim trẻ mới vào nghề thử sức của tự khẳng định.
Phim hoạt hình cũng được mở rộng các bình diện sáng tác. Bên cạnh những bộ phim mang tính ngụ ngôn, đồng thoại, điện ảnh phim hoạt hình đã có một loạt phim về đề tài chống Mỹ và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong nhân dân, đặc biệt là lứa tuổi thiếu niên nhi đồng. Đó là các phim : Binh Ong, Chiến Công của chú Sét, Pháo đài xanh, Bài ca trên vách núi, Con Sáo biết nói, Trâu húc, Kơpahơlang, Mưa chống cànv.v..
Điện ảnh thời kỳ 1965 – 1975 còn được ghi nhận như là sự trưởng thành vượt bậc về đội ngũ và trình độ nghề nghiệp. Có thể nói, ở thời kỳ này trên mọi nẻo đường của đất nước, trên mọi trận tuyến của cách mạng, đâu đâu cũng có dấu chân của các cán bộ công nhân viên, nghệ sĩ điện ảnh. Nhiều người đã hy sinh cả tính mạng trong lúc đi sáng tác tác phẩm và mang đi phục vụ bộ đội và nhân dân.
Trong khoảng thời gian hơn 20 năm (từ 1954 – 1975) điện ảnh của chúng ta không những phục vụ đắc lực sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta mà qua thử thách của cuộc chiến tranh thần thánh đã không ngừng trưởng thành một cách toàn diện: đội ngũ lớn mạnh với đông đảo các thành phần sáng tác , sản xuất, phổ biến phim; trình độ làm phim ngày càng mang tính chuyên nghiệp, các cơ sở làm phim được mở rộng mang tính chuyên sâu và bước đầu đã khẳng định là một nền điện ảnh có bản sắc, có một vị thế trong khu vực và trên thế giới.
+ PHẢN HỒI CỦA BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT:
Các tin khác
Những hoạt động đầu tiên của điện ảnh Việt Nam
Dưới ách thông trị của đế quốc Pháp, đất nước Việt Nam “Chìm đắm trong canh dài thăm thẳm của một thuộc...
Dưới ách thông trị của đế quốc Pháp, đất nước Việt Nam “Chìm đắm trong canh dài thăm thẳm của một thuộc...
Thời kỳ sơ khai của điện ảnh Việt Nam
Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tai tiệm Cà phê lớn ( Grand café) ở đại lộ Ca-pu-xin-nơ (capucines), thủ đô Pa-ri(Paris) của...
Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tai tiệm Cà phê lớn ( Grand café) ở đại lộ Ca-pu-xin-nơ (capucines), thủ đô Pa-ri(Paris) của...
Sự kiện phim trường
- Những vụ tự sát chấn động Hollywood – Phần 2
- Người đẹp Hollywood “thất thế”…?
- Rừng Na Uy đại diện cho Nhật Bản tham dự LHP Venice
- "Tân Hoàn Châu Cách Cách" bị fans chê là "quê mùa"
- Nóng 100 độ! Loạt hình đầu tiên của Kim Hyun Joong trong "Thơ Ngây"!
- Nghe Vũ Thu Phương kể chuyện bị đánh trên trường quay
Giới thiệu phim
- "Bản sao của Song Hye Kyo" tung trailer làm xứ Trung "run rẩy"
- "Chàng ăn mày đẹp trai nhất Trung Quốc" sắp lên phim
- Goo Hye Sun bắt đầu cất "tiếng hót" trong phim mới
- "Rừng Na Uy" ra lò trailer cực bắt mắt
- Selena Gomez "khóa môi" cực yêu trong phim mới
- "High School Musical" phiên bản Trung tung trailer nóng bỏng
- Ngưỡng cửa cuộc đời
- Eclipse - Khi tình yêu là phải lựa chọn
- Elly Trần "khoe sắc" trong phim hiphop Việt
- Xem Từ Hy Viên "nhéo tai" hoàng thượng
- Mưa rơi (phim: Người đàn bà yếu đuối)
- Bài ca gió (phim: Chuyện tình đảo ngọc)
- Xin lỗi tình yêu (phim:Xin lỗi tình yêu)
- Em nhớ anh nhiều (phim:Gọi giấc mơ về )
- Dòng thời gian (phim:Mùi ngò gai )
- Chân tình (phim:Lọ lem hè phố )
- Tiếc (phim:Bẫy rồng )
- Dòng Sông Không Trở Lại (phim: Dòng đời )
- Cô gái xấu xí (phim: Cô gái xấu xí )
- Giấc Mơ Tuyết Trắng (phim:Tuyết nhiệt đới )

