Giới thiệu hội điện ảnh
Tọa đàm đầu tư
Tin tức
Âm nhạc và điện ảnh
Hội điện ảnh Việt Nam » Lịch sử hội điện ảnh Việt Nam » Lịch sử hình thành Hội điện ảnh Việt Nam
send to a Friend Print this page
Đầu năm 1953, cùng với đà thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, tình hình điện ảnh Việt Nam, với việc xây dựng phim Chiến thắng Tây Bắc, đã phát triển chín muồi để có thể chính thức thành lập một tổ chức có tính chất tập trung toàn diện trong phạm vi cả nước nhằm phát huy những thành tựu bước đầu đã đạt được, xây dựng trên nền nghệ thuật điện ảnh dân tộc phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Ngày 15-3-1953 trên chiến khu Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 147/SL quyết định đặt phòng Điện – Nhiếp trong Nhà tuyên truyền và Văn nghệ thành một doanh nghiệp quốc gia lấy tên là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam”…
Sắc lệnh 147/SL quy định cho Điện ảnh và Nhiệp ảnh Việt Nam 4 nhiệm vụ:
1. Tuyền truyền chính sách chủ trương của Chính phủ
2. Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và dân Việt Nam.
3.Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh kiên quyết của nhân dân các nước bạn.
4. Giáo dục băn hoá và chính trị cho nhân dân.
Từ đó ngày 15-3-1953 được coi như ngày chính thức khai sinh ra nên điện ảnh dân tộc (cũng như ngành nhiếp ảnh Việt Nam). Mặc dù tên gọi đầu tiên được quy định trong Sắc Lệnh 147/SL là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh” nhưng 4 nhiệm vụ đặc biệt các nhiệm vụ 1,2 và 4 được đề ra cho những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc rõ rang có bao hàm công việc sản xuất, sáng tác phim vì chỉ có phim ảnh do các nghệ sỹ Việt Nam sáng tạo, phản ánh thực tế chiến đấu xây dựng ở Việt Nam mơi có thể là cơ sở đầy đủ đúng đắn nhất, hoàn chỉnh nhất cho công tác tuyên truyền, động viên, giáo dục nhân dân Việt Nam.
Tính chất lịch sử của Sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký ngày 15-3-1953 đánh dấu cột mốc ra đời của ngành điện ảnh Việt Nam là ở chỗ văn kiện này là sự xác nhận chính thức đầu tiên về mặt pháp lý sự hình thành một tổ chức điện ảnh Nhà nước của Chính quyền Trung Ương, từ đó tạo ra những điểu kiện cơ bản để đưa những hoạt động điện ảnh lẻ tẻ còn mang tính chất tự phát, địa phương nghiệp dư vào một tổ chức có tính chất chuyên nghiệp, thống nhất cả nước với một sự chỉ đạo tập trung, với những nhiện vụ thống nhất, tạo điểu kiện để tập hợp, đào tạo, bổ sung, hoàn chỉnh đội ngũ cán bộ nhiều mặt, nhiều bộ môn điện ảnh, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho sự nghiệp điện ảnh dân tộc, phát huy đầy đủ hiệu lực của sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em tới.
Khu Đồi cọ thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên – nơi làm việc của phòng điện ảnh – Nhiếp ảnh cũ trở thành chiếc nôi ra đời của điện ảnh Việt Nam.Bắt đầu là những chiếc buồng tối đóng bằng ván trong đặt những guồng tráng phim thủ công đóng bằng gỗ. Tiếp đó, một chiếc máy in phim chế biến từ một máy chiếu phim 16mm bắt đầu hoạt động …Phong trào thi đua yêu nước lên cao cùng với tin thắng trận dồn dập từ các mặt trận đưa về. Ngành điện ảnh mới chính thức thành lập nhộn nhịp hoạt động trong không khí chung của cả nước. Đồng chí Phạm Văn Khoa – một trong những người đầu tiên xây dựng nền điện ảnh Việt Nam đã miêu tả quang cảnh Đồi Cọ trong những ngày này như sau: “ Thời kỳ này, khu điện ảnh nhộn nhịp hẳn lên. Sáu mươi lăm chiếc nàh lá làm trên ba quả đồi ở rừng Cọ Việt Bắc ngày cũng như đêm, không lúc nào ngớt tiếng động cơ phát điện. Các bộ phận in tráng, thu thanh, máy chiếu, máy nổ, máy phóng thanh thi đua với nhau góp công, góp sức xây dựng ngành điện ảnh.”
Tuy vậy máy của ta mới chỉ in được phim 16mm câm. Phim Chiến thắng Tây Bắc 35mm có iếng động phải gửi ra nước ngoài in tráng. Vấn đề cấp bách đầu tiên cần giải quyết là phải in được phim có tiếng. Chủ trương sản xuất phim có tiếng giữa rừng Việt Bắc vào thời gian đó là một chủ trương thật táo bạo vì muốn thực hiện được việc đó cần có máy ghi âm quang tính vào phim. Đây là một loại máy vi tính, phức tạp, đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao của nhiều ngành chuyên môn cùng phối hợp chế tạo. Trong khi đó lực lượng cán bộ kỹ thuật điện ảnh của ta chưa có hiểu biết gì về thiết kế loại máy này, thậm chí chưa hình dung được thực tế toàn bộ máy ra sao. Khó khăn tưởng chừng không sao vượt nổi. Những trong khí thế chung của cả nước đang mang hết sức cho chiến dịch Điện Biên lịch sử và trong niềm hân hoan được thấy sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Chính phủ đối với ngành điện ảh thể hiện qua sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký giữa lúc Người đang bận giải quyết biết bao côgn việc bộn bề, trọng đại của dân tộc, những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc đều có chung mộ tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người ảnh dân tộc đều có chung một tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trogn một bài hồi nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trong một bài hồi ký, đồng chí Phan Nghiêm viết : “ Mỗi chúng ta đều như được chắp cánh bay lên. Một niềm tin phấn khởi tin tưởng dạt dào dâng lên khắp khu Đồi cọ là nơi chúng tôi xây dựng điện ảnh tại chiến khu Việt Bắc”.
“…Những lời của Bác Hồ về tinh thần tự lực cánh sinh mà tôi được may mắn nghe Bác nói trong Đại hội chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất- hồi đó tôi và một số anh em làm công tác điện ảnh được đến Đại hội về quay phim – cùng với những gương sáng ngời của các anh hùng chiến sĩ thi đua trong Đại hội đã mang đến cho tôi niềm tin tưởng và quyết tâm vượt mọi khó khăn, chế tạo kỳ được chiếc máy mà toàn ngành đang mong đợi”.
Với niềm tin tưởng và quyết tâm đó, với sự giúp đỡ tận tình của tập thể, suốt hơn bốn tháng trời đồng chí Phan Nghiêm miệt mài vừa học tiếng Anh vừa nghiên cứu sách về kỹ thuật thu thanh (bằng tiếng Anh), vừa làm nhiệm vụ công nhân cơ khí, thu lượm các chi tiết máy cũ, thậm chí cả vở đồ hộp thu được của lính Pháp (để làm vỏ hộp máy) quyết chế tạo bằng được bộ máy ghi âm quang tính.
Sự ra đời của đứa con đầu lòng của ngành cơ khí điện ảnh Việt Nam – chiếc máy ghi âm quang học tự học mang tên “tự cường 1” được đồng chí Phan Nghiêm kể lại như sau:
“Thế rồi trong một đêm cuối mùa thu năm ấy, sau khi bấm nút cho máy cahỵ tôi vô cùng xúc động nói trước mi-crô để ghi lời nói của mình vào phim.
Những thước phim có tiếng đầu tiên được nối thành một vòng vô tận lắp vào một máy chiếu phim.
Điều thần kỳ mong đợi bấy lâu nay đã đến: tiếng nói trong phim phát ra làm vang dội cả khu rừng đang chìm trong bóng đêm. Anh em khu Đồi Cọ bừng tỉnh lắng nghe tiếng nói được ghi vào những thước phim có tiếng đầu tiên bằng chiếc máy ghi âm quang học tự chế của ngành điện ảnh Việt Nam.”
Bộ phim đầu tiên trong đó lời thuyết minh, nhạc nền và tiếng động được ghi bằng “ Tự cường I” cũng là bộ phim ghi lại sự kiện đã thôi thúc Phan Nghiêm sáng chế ra chiếc máy. Đó là phim Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (phim 16mm). Những người xem phim thính tai đã phát hiện ra cả tiếng muông thú và côn trùng của núi rừng Việt Bắc lẫn trong tiếng nhạc và lời thuyết minh tỏng bộ phim lịch sử này. Những tạp âm nói lên sự thiếu sót trong buổi trường thành đó không hề làm nản lòng những người đi đầu xây dựng điện ảnh Việt Nam mà trái lại còn tạo cho họ những ấn tượng sâu sắc về những ngày hoạt động sáng tạo sôi nổi cho ngành điện ảnh dân tộc.
Tiếp theo đó, sau ngày hoà bình lập lại, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, tại thủ đô Hà Nội, Phan Nghiêm chế tạo tiếp “tự cường 2” – máy ghi âm quang tính vào phim 35 mm, rồi máy “ tự cường 3” hoàn chỉnh hơn và cả một loạt trang bị tự chế cho một dây chuyền sản xuất phim 35 mm có tiếng : khung và bộ tráng phim, tủ sấy phim, bàn hoà âm, bàn dựng phimv.v…
Trong khi Phan Nghiêm say sưa sáng chế máy “Tự cường 1” thì các đoàn quay phim cũng lên đường vào vùng địch hậu và ra mặt trận ghi chép những hình ảnh cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân Việt Nam đang tiến tới thắng lợi.
Giữ làng giữ nước – bộ phim tài liệu 16mm, dài 4 cuốn quay về cuộc sống chiến tranh du kích tại vùng địch tạm chiếm trên tả ngạn sông Hồng do đạo diễn kiêm quay phim Mai Lộc và các nhà quay phim Quang Huy, Trần Quốc Ân, thực hiện tiếp tục chiều hướng khái quát một vấn đề lớn mà phi Chiến Thắng Tây Bắc đã mở đầu. Phong cách làm phim chiến đấu của những bộ phim tài liệu ngắn đầu tiên được phát huy qua công phu vượt mọi nguy hiểm, khó khăn lọt hẳn vào vùng địch tạm chiếm và qua tinh thần của những người làm phim tìm mọi chách tiếp vận với tài liệu, trực tiếp ghi chép những hình ảnh chân thực làm cơ sở vững căhcs cho bộ phim có được sức thuyết phục mạnh mẽ và sức khái quát cao. Hình tượng cuộc chiến tranh du kích mang tính toàn dân tộc được thể hiện khá sinh đọng qua những thước phim ghi được sinh hoạt quen thuộc đã trở thành nếp sống hành ngày trong khu du kích nhưng thực sự vượt qua khỏi ức tưởng tượng cảu những người chỉ bieét sống trong hoàn cảnh hoà bình, lao động bình thường. Ống kính ghi chép – nhiều khi về mặt kỹ thuật ánh sáng, cắt khuôn hình còn quá thô sơ nhưng khá chân thực mộc mạc, không tô vẽ - từ hoạt động của nhân dân vừa sản xuất vừa xây dựng làng chiến đấu, những trận chiến đấu chống càn, thực hiện cải cách ruộng đấtv.v… Phong cách mộc mạc đó tạo cho những cảnh tố cáo tôi ác giặc (xác cô gái nôn dân bị giặc đi càn bắn chết, xương người đào được trong bốt Huyết Trụ sau khi giặc bỏ chạy) có sức thuyết phục mạnh mẽ nhờ đó bộ phim có cơ sở vững chắc để lý giải về ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân, về đường lối đúng đắn và vai trò lãnh đạo quyết định của Đảng trong việc phát động cuộc chiến tranh du kích toàn dân. Những cảnh nhân dân thực hiện “ Vườn không nhà trống” cất giấu thóc lúa, gà lợn tự động chạy xuống hầm bí mật, trở thành những đoạn phim giáo khao bổ ích về cuộc chiến tranh du kích đồng thời cũng nêu bật lên ý chí quyết tâm của nhân dân ta không chịu khuất phục trước bạo lực của giặc xâm lược. Đặc biệt đoạn phim trực tiếp quay cảnh du kích đánh mình lật đổ đoàn tàu hoả quân sự chở xăng đàu của địch trên đường số 5 mà nhà quay phim Quang Huy thực hiện được với mưu trí và lòng dũng cảm và sự giúp đỡ tận tình của các chiến sĩ và nhân dân vùng tạm chiếm, có giá trị tư liệu lịch sử không kém gì những đoạn phim được quay trong các cuộc chiến đấu của điện ảnh tài liệu Liên Xô, Pháp, v.v… đã nổi tiếng trong điện ảnh thế giới. Toàn bộ hình ảnh đoạn phim này ghi được từ khi đoàn tàu chở dầu quân Pháp lao vào nơi bố trí mìn, bị mình nổ lật tung, những toan xe chồm lên nhau, lăn xuống vệ đường, lửa bốc cuồn cuộn, khó bốc cao thành hình nấm khổng lồ… được đạo diễn R. Các men (Liên Xô) trích sử dụng trong phim Việt Nam trên đường thắng lợi của ông. Giá trị lịch sử của phim Giữ làng giữ nước còn có ý nghĩa đặc biệt trong nền điện ảnh dân tộc, vì đây là bộ phim thứ hai có tiếng động, lời thuyết minh ghi bằng chiếc máy “Tự cường” do điện ảnh Việt Nam chế tạo. Phim Giữ làng giữ nước được tặng giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim lần thứ 2 (1973).
Trong khi đoàn làm phim Giữ làng giữ nước đi vào vùng địch ghi lại hình ảnh cuộc chiến tranh du kích thì một đoàn khác gồm có đồng chí Nguyễn Tiến Lợi, Nguyễn Hồng Nghị, Nguyễn Phụ Cấn, Nguyễn Quý Lục, Nguyễn Đăng Bẩy, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Như Ái, Nguyễn Thụ… được cử lên Điện Biên Phủ thắng lợi. “Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” của dân tộc Việt Nam cũng đồng thời cung cấp cho những người làm phim chất liệu thực tế, một cảm xúc vô giá để thực hiện bộ phim đánh dấu cột mốc mới trong lịch sử điện ảnh ta: phim tại liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ (35mm).
Với một tập thể làm phim khá đông đảo chia làm nhiều đội nhỏ phối hợp chặt chẽ với nhau, đoàn làm phim Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi lại nhiều hình ảnh chân thực, nhiều tư liệu sống động có giá trị lịch sử về sự kiện quan trọng có tầm quyết định trong sự nghiệp chiến đấu chống quân xâm lược Pháp giải phóng dân tộc, có tiếng vang rộng lớn trên toàn thế giới. Những toàn cảnh giao thông hào quân ta chẳng chịt bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên, cảnh cắm cờ trắng ra hàng v.v..Đã vượt ra ngoài phạm vi những cảnh trong một bộ phim tài liệu và trở thành tư liệu có một không hai có thể dùng làm để tài sáng tác, làm chất liệu gợi ý cho các nghệ sỹ sáng tác thuộc nhiều thế hệ sau trong các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau.
Bên cạnh những giá trị tư liệu lớn lao có được nhờ viết tiếp tục phát huy cách làm những phim tài liệu trước đó, phim Chiến thắng Điện Biên Phủ còn nổi bật ở giá trị chính luận toát ra từ lời bình, giải thích, chứng minh kèm theo những hình ảnh sinh động như: Hồ Chủ tịch đến thăm, nói chuyện với bộ đội trước khi chiến dịch bắt đầu, Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam bàn bạc quyết định mở chiến dịch, các chiến sỹ đọc thư bài nhà báo tin phát động cái cách ruộng đất v.v.. nhờ đó nâng tầm nhận thức của người xem, giúp họ khái quát được cả một quá trình “9 năm làm một Điện Biên”, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa tiền tuyến với hậu phương dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Lãnh tụ với những kỳ tích chiến đấu mà quân đội để có thể đánh giá phim chiến thắng Điện Biên Phủ như một cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của nền điện ảnh dân tộc đó là giá trị nghệ thuật cao của tác phẩm này bộ lộ qua hình tượng người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cchống Pháp thực hiện rực rỡ, sâu sắc, hoàn chỉnh. Hình tượng người chiến sĩ đó rực sáng trên nền cuọc chiến tranh nhân dân do toàn Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Yếu tố nghệ thuật đó có được, một phần lớn nhờ có sự xúc động thực sự của những người cầm máy quay trong tập thể tác giả bộ phim. Tự bản thân nhiều cảnh riêng biệt của từng nhà quay phim tham gia xây dựng tác phẩm Chiến thẳng Điện Biên Phủ cũng đã đạt tới giá trị nghệ thuật cao. Đó không phải là những bức ảnh sao chép những sự việc diễn ra trước ống kính mà trong những cảnh phim này còn chứa đựng tâm hồn xúc cảm, các đánh giá thái độ và tình cảm của người cầm máy bay. Sức truyền cảm mạnh mẽ toát ra hâu như từ mọi cảnh phim: bộ đội kéo pháp qua núi, văn công biểu diễn ngoài chiến hoà, chiến sỹ đọc thư Bác trước giờ xuất kích, những nét mặt, bàn tay chiến sỹ đào hào giao thông vây quanh Điện Biên Phủ. Cái đẹp của người chiến sĩ quân đội toả ra những cảnh ghi lại lòng dũng cảm, sức cố gắng phi thường, tình yêu đất nước, yêu quê hương, yêu lãnh tụ, tinh thần chiến đấu ngoan cường mà tập thể tác giả phim truyền đạt với cả tấm lòng trân trọng tới người xem qua cận cảnh nêu bật nét mặt,cặp mắt, cánh tay hoặc qua những toàn cảnh rộng lớn, hùng vĩ quanh cánh đồng Mường Thanh, núi rừng Tây Bắc.
Với giá trị tư liệu, chính luận và nghệ thuật cao phim tài liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ là tác phẩm tổng kết cả một giai đoạn phát triển đầu tiên của điện ảnh dân tộc Việt Nam trưởng thành trong chiến đấu, luôn bám sát thực tế cách mạng ở những nơi sôi sục nhất của cuộc sống, luôn phát huy tinh thần tự lực tự cường, vượt mọi khó khăn, thiếu thốn, nguy hiểm vươn lên những thành tựu mới về mặc nghệ thuật. Phim Chiến thắng Điện Biên Phủ được tặng Bông sen Vàng trong dịp tổng kết sáng tác 20 năm thành lập ngành điện ảnh tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai (1973). Vì Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với nhiệm vụ giáo dục truyền thống chiến đấu cho Quân đội, về sau, các nhà điện ảnh Quân đội đã sử dụng tư liệu trong phim Chiến thắng Điện Biên Phủ để dựng lại bộ phim Kỷ niệm mười năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (có đề cập trong phần điện ảnh Quân đội).
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết. Tại miền Nam, trong thời gian bộ đội và cán bộ ta thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ tập kết ra Bắc, đồng chí An Sơn đã quay được bộ phim tài liệu Nam đất miền Nam về sự kiện này.
Miền Bắc Việt Nam được giải phóng tạo điểu kiện thuận lợi cho việc phát triển điện ảnh thành một ngành nghệ thuật độc lập, hoàn chỉnh gồm đủ các thành phần nghệ thuật, kỹ thuật và kinh tế.
Ngày 15-3-1953 trên chiến khu Việt Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 147/SL quyết định đặt phòng Điện – Nhiếp trong Nhà tuyên truyền và Văn nghệ thành một doanh nghiệp quốc gia lấy tên là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam”…
Sắc lệnh 147/SL quy định cho Điện ảnh và Nhiệp ảnh Việt Nam 4 nhiệm vụ:
1. Tuyền truyền chính sách chủ trương của Chính phủ
2. Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và dân Việt Nam.
3.Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh kiên quyết của nhân dân các nước bạn.
4. Giáo dục băn hoá và chính trị cho nhân dân.
Từ đó ngày 15-3-1953 được coi như ngày chính thức khai sinh ra nên điện ảnh dân tộc (cũng như ngành nhiếp ảnh Việt Nam). Mặc dù tên gọi đầu tiên được quy định trong Sắc Lệnh 147/SL là “ Doanh nghiệp quốc gia chiếu bóng và chụp ảnh” nhưng 4 nhiệm vụ đặc biệt các nhiệm vụ 1,2 và 4 được đề ra cho những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc rõ rang có bao hàm công việc sản xuất, sáng tác phim vì chỉ có phim ảnh do các nghệ sỹ Việt Nam sáng tạo, phản ánh thực tế chiến đấu xây dựng ở Việt Nam mơi có thể là cơ sở đầy đủ đúng đắn nhất, hoàn chỉnh nhất cho công tác tuyên truyền, động viên, giáo dục nhân dân Việt Nam.
Tính chất lịch sử của Sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký ngày 15-3-1953 đánh dấu cột mốc ra đời của ngành điện ảnh Việt Nam là ở chỗ văn kiện này là sự xác nhận chính thức đầu tiên về mặt pháp lý sự hình thành một tổ chức điện ảnh Nhà nước của Chính quyền Trung Ương, từ đó tạo ra những điểu kiện cơ bản để đưa những hoạt động điện ảnh lẻ tẻ còn mang tính chất tự phát, địa phương nghiệp dư vào một tổ chức có tính chất chuyên nghiệp, thống nhất cả nước với một sự chỉ đạo tập trung, với những nhiện vụ thống nhất, tạo điểu kiện để tập hợp, đào tạo, bổ sung, hoàn chỉnh đội ngũ cán bộ nhiều mặt, nhiều bộ môn điện ảnh, thúc đẩy việc xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho sự nghiệp điện ảnh dân tộc, phát huy đầy đủ hiệu lực của sự giúp đỡ từ các nước xã hội chủ nghĩa anh em tới.
Khu Đồi cọ thuộc huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên – nơi làm việc của phòng điện ảnh – Nhiếp ảnh cũ trở thành chiếc nôi ra đời của điện ảnh Việt Nam.Bắt đầu là những chiếc buồng tối đóng bằng ván trong đặt những guồng tráng phim thủ công đóng bằng gỗ. Tiếp đó, một chiếc máy in phim chế biến từ một máy chiếu phim 16mm bắt đầu hoạt động …Phong trào thi đua yêu nước lên cao cùng với tin thắng trận dồn dập từ các mặt trận đưa về. Ngành điện ảnh mới chính thức thành lập nhộn nhịp hoạt động trong không khí chung của cả nước. Đồng chí Phạm Văn Khoa – một trong những người đầu tiên xây dựng nền điện ảnh Việt Nam đã miêu tả quang cảnh Đồi Cọ trong những ngày này như sau: “ Thời kỳ này, khu điện ảnh nhộn nhịp hẳn lên. Sáu mươi lăm chiếc nàh lá làm trên ba quả đồi ở rừng Cọ Việt Bắc ngày cũng như đêm, không lúc nào ngớt tiếng động cơ phát điện. Các bộ phận in tráng, thu thanh, máy chiếu, máy nổ, máy phóng thanh thi đua với nhau góp công, góp sức xây dựng ngành điện ảnh.”
Tuy vậy máy của ta mới chỉ in được phim 16mm câm. Phim Chiến thắng Tây Bắc 35mm có iếng động phải gửi ra nước ngoài in tráng. Vấn đề cấp bách đầu tiên cần giải quyết là phải in được phim có tiếng. Chủ trương sản xuất phim có tiếng giữa rừng Việt Bắc vào thời gian đó là một chủ trương thật táo bạo vì muốn thực hiện được việc đó cần có máy ghi âm quang tính vào phim. Đây là một loại máy vi tính, phức tạp, đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật cao của nhiều ngành chuyên môn cùng phối hợp chế tạo. Trong khi đó lực lượng cán bộ kỹ thuật điện ảnh của ta chưa có hiểu biết gì về thiết kế loại máy này, thậm chí chưa hình dung được thực tế toàn bộ máy ra sao. Khó khăn tưởng chừng không sao vượt nổi. Những trong khí thế chung của cả nước đang mang hết sức cho chiến dịch Điện Biên lịch sử và trong niềm hân hoan được thấy sự quan tâm chăm sóc của Đảng và Chính phủ đối với ngành điện ảh thể hiện qua sắc lệnh 147/SL do Hồ Chủ tịch ký giữa lúc Người đang bận giải quyết biết bao côgn việc bộn bề, trọng đại của dân tộc, những người đi đầu xây dựng nền điện ảnh dân tộc đều có chung mộ tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người ảnh dân tộc đều có chung một tâm trạng như đồng chí Phan Nghiêm – người nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trogn một bài hồi nhận nhiệm vụ giải quyết việc sản xuất phim có tiếng hồi đó. Trong một bài hồi ký, đồng chí Phan Nghiêm viết : “ Mỗi chúng ta đều như được chắp cánh bay lên. Một niềm tin phấn khởi tin tưởng dạt dào dâng lên khắp khu Đồi cọ là nơi chúng tôi xây dựng điện ảnh tại chiến khu Việt Bắc”.
“…Những lời của Bác Hồ về tinh thần tự lực cánh sinh mà tôi được may mắn nghe Bác nói trong Đại hội chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ nhất- hồi đó tôi và một số anh em làm công tác điện ảnh được đến Đại hội về quay phim – cùng với những gương sáng ngời của các anh hùng chiến sĩ thi đua trong Đại hội đã mang đến cho tôi niềm tin tưởng và quyết tâm vượt mọi khó khăn, chế tạo kỳ được chiếc máy mà toàn ngành đang mong đợi”.
Với niềm tin tưởng và quyết tâm đó, với sự giúp đỡ tận tình của tập thể, suốt hơn bốn tháng trời đồng chí Phan Nghiêm miệt mài vừa học tiếng Anh vừa nghiên cứu sách về kỹ thuật thu thanh (bằng tiếng Anh), vừa làm nhiệm vụ công nhân cơ khí, thu lượm các chi tiết máy cũ, thậm chí cả vở đồ hộp thu được của lính Pháp (để làm vỏ hộp máy) quyết chế tạo bằng được bộ máy ghi âm quang tính.
Sự ra đời của đứa con đầu lòng của ngành cơ khí điện ảnh Việt Nam – chiếc máy ghi âm quang học tự học mang tên “tự cường 1” được đồng chí Phan Nghiêm kể lại như sau:
“Thế rồi trong một đêm cuối mùa thu năm ấy, sau khi bấm nút cho máy cahỵ tôi vô cùng xúc động nói trước mi-crô để ghi lời nói của mình vào phim.
Những thước phim có tiếng đầu tiên được nối thành một vòng vô tận lắp vào một máy chiếu phim.
Điều thần kỳ mong đợi bấy lâu nay đã đến: tiếng nói trong phim phát ra làm vang dội cả khu rừng đang chìm trong bóng đêm. Anh em khu Đồi Cọ bừng tỉnh lắng nghe tiếng nói được ghi vào những thước phim có tiếng đầu tiên bằng chiếc máy ghi âm quang học tự chế của ngành điện ảnh Việt Nam.”
Bộ phim đầu tiên trong đó lời thuyết minh, nhạc nền và tiếng động được ghi bằng “ Tự cường I” cũng là bộ phim ghi lại sự kiện đã thôi thúc Phan Nghiêm sáng chế ra chiếc máy. Đó là phim Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (phim 16mm). Những người xem phim thính tai đã phát hiện ra cả tiếng muông thú và côn trùng của núi rừng Việt Bắc lẫn trong tiếng nhạc và lời thuyết minh tỏng bộ phim lịch sử này. Những tạp âm nói lên sự thiếu sót trong buổi trường thành đó không hề làm nản lòng những người đi đầu xây dựng điện ảnh Việt Nam mà trái lại còn tạo cho họ những ấn tượng sâu sắc về những ngày hoạt động sáng tạo sôi nổi cho ngành điện ảnh dân tộc.
Tiếp theo đó, sau ngày hoà bình lập lại, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, tại thủ đô Hà Nội, Phan Nghiêm chế tạo tiếp “tự cường 2” – máy ghi âm quang tính vào phim 35 mm, rồi máy “ tự cường 3” hoàn chỉnh hơn và cả một loạt trang bị tự chế cho một dây chuyền sản xuất phim 35 mm có tiếng : khung và bộ tráng phim, tủ sấy phim, bàn hoà âm, bàn dựng phimv.v…
Trong khi Phan Nghiêm say sưa sáng chế máy “Tự cường 1” thì các đoàn quay phim cũng lên đường vào vùng địch hậu và ra mặt trận ghi chép những hình ảnh cuộc kháng chiến anh hùng của nhân dân Việt Nam đang tiến tới thắng lợi.
Giữ làng giữ nước – bộ phim tài liệu 16mm, dài 4 cuốn quay về cuộc sống chiến tranh du kích tại vùng địch tạm chiếm trên tả ngạn sông Hồng do đạo diễn kiêm quay phim Mai Lộc và các nhà quay phim Quang Huy, Trần Quốc Ân, thực hiện tiếp tục chiều hướng khái quát một vấn đề lớn mà phi Chiến Thắng Tây Bắc đã mở đầu. Phong cách làm phim chiến đấu của những bộ phim tài liệu ngắn đầu tiên được phát huy qua công phu vượt mọi nguy hiểm, khó khăn lọt hẳn vào vùng địch tạm chiếm và qua tinh thần của những người làm phim tìm mọi chách tiếp vận với tài liệu, trực tiếp ghi chép những hình ảnh chân thực làm cơ sở vững căhcs cho bộ phim có được sức thuyết phục mạnh mẽ và sức khái quát cao. Hình tượng cuộc chiến tranh du kích mang tính toàn dân tộc được thể hiện khá sinh đọng qua những thước phim ghi được sinh hoạt quen thuộc đã trở thành nếp sống hành ngày trong khu du kích nhưng thực sự vượt qua khỏi ức tưởng tượng cảu những người chỉ bieét sống trong hoàn cảnh hoà bình, lao động bình thường. Ống kính ghi chép – nhiều khi về mặt kỹ thuật ánh sáng, cắt khuôn hình còn quá thô sơ nhưng khá chân thực mộc mạc, không tô vẽ - từ hoạt động của nhân dân vừa sản xuất vừa xây dựng làng chiến đấu, những trận chiến đấu chống càn, thực hiện cải cách ruộng đấtv.v… Phong cách mộc mạc đó tạo cho những cảnh tố cáo tôi ác giặc (xác cô gái nôn dân bị giặc đi càn bắn chết, xương người đào được trong bốt Huyết Trụ sau khi giặc bỏ chạy) có sức thuyết phục mạnh mẽ nhờ đó bộ phim có cơ sở vững chắc để lý giải về ý chí chiến đấu kiên cường của nhân dân, về đường lối đúng đắn và vai trò lãnh đạo quyết định của Đảng trong việc phát động cuộc chiến tranh du kích toàn dân. Những cảnh nhân dân thực hiện “ Vườn không nhà trống” cất giấu thóc lúa, gà lợn tự động chạy xuống hầm bí mật, trở thành những đoạn phim giáo khao bổ ích về cuộc chiến tranh du kích đồng thời cũng nêu bật lên ý chí quyết tâm của nhân dân ta không chịu khuất phục trước bạo lực của giặc xâm lược. Đặc biệt đoạn phim trực tiếp quay cảnh du kích đánh mình lật đổ đoàn tàu hoả quân sự chở xăng đàu của địch trên đường số 5 mà nhà quay phim Quang Huy thực hiện được với mưu trí và lòng dũng cảm và sự giúp đỡ tận tình của các chiến sĩ và nhân dân vùng tạm chiếm, có giá trị tư liệu lịch sử không kém gì những đoạn phim được quay trong các cuộc chiến đấu của điện ảnh tài liệu Liên Xô, Pháp, v.v… đã nổi tiếng trong điện ảnh thế giới. Toàn bộ hình ảnh đoạn phim này ghi được từ khi đoàn tàu chở dầu quân Pháp lao vào nơi bố trí mìn, bị mình nổ lật tung, những toan xe chồm lên nhau, lăn xuống vệ đường, lửa bốc cuồn cuộn, khó bốc cao thành hình nấm khổng lồ… được đạo diễn R. Các men (Liên Xô) trích sử dụng trong phim Việt Nam trên đường thắng lợi của ông. Giá trị lịch sử của phim Giữ làng giữ nước còn có ý nghĩa đặc biệt trong nền điện ảnh dân tộc, vì đây là bộ phim thứ hai có tiếng động, lời thuyết minh ghi bằng chiếc máy “Tự cường” do điện ảnh Việt Nam chế tạo. Phim Giữ làng giữ nước được tặng giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim lần thứ 2 (1973).
Trong khi đoàn làm phim Giữ làng giữ nước đi vào vùng địch ghi lại hình ảnh cuộc chiến tranh du kích thì một đoàn khác gồm có đồng chí Nguyễn Tiến Lợi, Nguyễn Hồng Nghị, Nguyễn Phụ Cấn, Nguyễn Quý Lục, Nguyễn Đăng Bẩy, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Như Ái, Nguyễn Thụ… được cử lên Điện Biên Phủ thắng lợi. “Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” của dân tộc Việt Nam cũng đồng thời cung cấp cho những người làm phim chất liệu thực tế, một cảm xúc vô giá để thực hiện bộ phim đánh dấu cột mốc mới trong lịch sử điện ảnh ta: phim tại liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ (35mm).
Với một tập thể làm phim khá đông đảo chia làm nhiều đội nhỏ phối hợp chặt chẽ với nhau, đoàn làm phim Chiến thắng Điện Biên Phủ đã ghi lại nhiều hình ảnh chân thực, nhiều tư liệu sống động có giá trị lịch sử về sự kiện quan trọng có tầm quyết định trong sự nghiệp chiến đấu chống quân xâm lược Pháp giải phóng dân tộc, có tiếng vang rộng lớn trên toàn thế giới. Những toàn cảnh giao thông hào quân ta chẳng chịt bao vây tập đoàn cứ điểm Điện Biên, cảnh cắm cờ trắng ra hàng v.v..Đã vượt ra ngoài phạm vi những cảnh trong một bộ phim tài liệu và trở thành tư liệu có một không hai có thể dùng làm để tài sáng tác, làm chất liệu gợi ý cho các nghệ sỹ sáng tác thuộc nhiều thế hệ sau trong các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau.
Bên cạnh những giá trị tư liệu lớn lao có được nhờ viết tiếp tục phát huy cách làm những phim tài liệu trước đó, phim Chiến thắng Điện Biên Phủ còn nổi bật ở giá trị chính luận toát ra từ lời bình, giải thích, chứng minh kèm theo những hình ảnh sinh động như: Hồ Chủ tịch đến thăm, nói chuyện với bộ đội trước khi chiến dịch bắt đầu, Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam bàn bạc quyết định mở chiến dịch, các chiến sỹ đọc thư bài nhà báo tin phát động cái cách ruộng đất v.v.. nhờ đó nâng tầm nhận thức của người xem, giúp họ khái quát được cả một quá trình “9 năm làm một Điện Biên”, thấy được mối liên hệ hữu cơ giữa tiền tuyến với hậu phương dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, Lãnh tụ với những kỳ tích chiến đấu mà quân đội để có thể đánh giá phim chiến thắng Điện Biên Phủ như một cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của nền điện ảnh dân tộc đó là giá trị nghệ thuật cao của tác phẩm này bộ lộ qua hình tượng người chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cchống Pháp thực hiện rực rỡ, sâu sắc, hoàn chỉnh. Hình tượng người chiến sĩ đó rực sáng trên nền cuọc chiến tranh nhân dân do toàn Việt Nam tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Yếu tố nghệ thuật đó có được, một phần lớn nhờ có sự xúc động thực sự của những người cầm máy quay trong tập thể tác giả bộ phim. Tự bản thân nhiều cảnh riêng biệt của từng nhà quay phim tham gia xây dựng tác phẩm Chiến thẳng Điện Biên Phủ cũng đã đạt tới giá trị nghệ thuật cao. Đó không phải là những bức ảnh sao chép những sự việc diễn ra trước ống kính mà trong những cảnh phim này còn chứa đựng tâm hồn xúc cảm, các đánh giá thái độ và tình cảm của người cầm máy bay. Sức truyền cảm mạnh mẽ toát ra hâu như từ mọi cảnh phim: bộ đội kéo pháp qua núi, văn công biểu diễn ngoài chiến hoà, chiến sỹ đọc thư Bác trước giờ xuất kích, những nét mặt, bàn tay chiến sỹ đào hào giao thông vây quanh Điện Biên Phủ. Cái đẹp của người chiến sĩ quân đội toả ra những cảnh ghi lại lòng dũng cảm, sức cố gắng phi thường, tình yêu đất nước, yêu quê hương, yêu lãnh tụ, tinh thần chiến đấu ngoan cường mà tập thể tác giả phim truyền đạt với cả tấm lòng trân trọng tới người xem qua cận cảnh nêu bật nét mặt,cặp mắt, cánh tay hoặc qua những toàn cảnh rộng lớn, hùng vĩ quanh cánh đồng Mường Thanh, núi rừng Tây Bắc.
Với giá trị tư liệu, chính luận và nghệ thuật cao phim tài liệu Chiến thắng Điện Biên Phủ là tác phẩm tổng kết cả một giai đoạn phát triển đầu tiên của điện ảnh dân tộc Việt Nam trưởng thành trong chiến đấu, luôn bám sát thực tế cách mạng ở những nơi sôi sục nhất của cuộc sống, luôn phát huy tinh thần tự lực tự cường, vượt mọi khó khăn, thiếu thốn, nguy hiểm vươn lên những thành tựu mới về mặc nghệ thuật. Phim Chiến thắng Điện Biên Phủ được tặng Bông sen Vàng trong dịp tổng kết sáng tác 20 năm thành lập ngành điện ảnh tại liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai (1973). Vì Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với nhiệm vụ giáo dục truyền thống chiến đấu cho Quân đội, về sau, các nhà điện ảnh Quân đội đã sử dụng tư liệu trong phim Chiến thắng Điện Biên Phủ để dựng lại bộ phim Kỷ niệm mười năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (có đề cập trong phần điện ảnh Quân đội).
Sau thắng lợi Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 được ký kết. Tại miền Nam, trong thời gian bộ đội và cán bộ ta thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ tập kết ra Bắc, đồng chí An Sơn đã quay được bộ phim tài liệu Nam đất miền Nam về sự kiện này.
Miền Bắc Việt Nam được giải phóng tạo điểu kiện thuận lợi cho việc phát triển điện ảnh thành một ngành nghệ thuật độc lập, hoàn chỉnh gồm đủ các thành phần nghệ thuật, kỹ thuật và kinh tế.
+ PHẢN HỒI CỦA BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT:
Các tin khác
Sự kiện phim trường
- Những vụ tự sát chấn động Hollywood – Phần 2
- Người đẹp Hollywood “thất thế”…?
- Rừng Na Uy đại diện cho Nhật Bản tham dự LHP Venice
- "Tân Hoàn Châu Cách Cách" bị fans chê là "quê mùa"
- Nóng 100 độ! Loạt hình đầu tiên của Kim Hyun Joong trong "Thơ Ngây"!
- Nghe Vũ Thu Phương kể chuyện bị đánh trên trường quay
Giới thiệu phim
- "Bản sao của Song Hye Kyo" tung trailer làm xứ Trung "run rẩy"
- "Chàng ăn mày đẹp trai nhất Trung Quốc" sắp lên phim
- Goo Hye Sun bắt đầu cất "tiếng hót" trong phim mới
- "Rừng Na Uy" ra lò trailer cực bắt mắt
- Selena Gomez "khóa môi" cực yêu trong phim mới
- "High School Musical" phiên bản Trung tung trailer nóng bỏng
- Ngưỡng cửa cuộc đời
- Eclipse - Khi tình yêu là phải lựa chọn
- Elly Trần "khoe sắc" trong phim hiphop Việt
- Xem Từ Hy Viên "nhéo tai" hoàng thượng
- Mưa rơi (phim: Người đàn bà yếu đuối)
- Bài ca gió (phim: Chuyện tình đảo ngọc)
- Xin lỗi tình yêu (phim:Xin lỗi tình yêu)
- Em nhớ anh nhiều (phim:Gọi giấc mơ về )
- Dòng thời gian (phim:Mùi ngò gai )
- Chân tình (phim:Lọ lem hè phố )
- Tiếc (phim:Bẫy rồng )
- Dòng Sông Không Trở Lại (phim: Dòng đời )
- Cô gái xấu xí (phim: Cô gái xấu xí )
- Giấc Mơ Tuyết Trắng (phim:Tuyết nhiệt đới )

