Giới thiệu hội điện ảnh

Tọa đàm đầu tư

Tin tức

Âm nhạc và điện ảnh

Hội điện ảnh Việt Nam » Lịch sử điện ảnh Việt Nam » Những hoạt động đầu tiên của điện ảnh Việt Nam



send to a Friend Print this page
II.1 Hãng phim Hươnng Ký và những phim Việt Nam do Nguyễn Lan Hương thực hiện

Dưới ách thông trị của đế quốc Pháp, đất nước Việt Nam “Chìm đắm trong canh dài thăm thẳm của một thuộc địa”. Đi đôi với chế độ cực kỳ hà khắc Pháp ra sức thực hiện chính sách ngu dân và bần cùng hoá nhân dân Việt Nam. Chúng dìm trong biển máu phong trào Cần Vương và mọi cuộc nổi dậy của dân tộc ta nhằm chống xiềng xích thực dân và giành độc lập cho Tổ quốc. Trong chiến tranh thế giứoi lần thứ nhất ( 1914 – 1918). Pháp còn bắt trai tráng nước ta đi lính hết thay cho “dân chính quốc” để bảo vệ “mẫu quốc”. Nhưng, dù thâm độc và hung hãn đến đâu, đế quốc Pháp cũng không diệt nổi lòng yêu nước nồng nàn và nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Noi theo chí hướng, tinh thần quật khởi và tầm gương sáng ngời xả thân vì nước của các sĩ phu yêu nước và các htủ lĩnh nghĩa quân cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, giới trí thức, văn nghệ sĩ, lớp thanh niên giàu nhiệt huyết với sự tồn vong của đất nước đã vừa tham gia vác tổ chức bí mật chống Pháp, vừa lợi dụng sự sơ hở hoặc mị dân của chính quyền cai trị thuộc địa để đấu tranh công khai dưới nhiều hình thức. Trong đó một bộ phận của các giới trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo, sinh viên, học sinh… thuở ấy đã có những hoạt động văn hoá, nghệ thuật nhằm hun đúc lòng yêu nước, góp phần thức tỉnh các tầng lớp xã hội.

Và, đã có một ố người nhạy bén trước thời cuộc, sớm phát hiện tác dụng ảnh hưởng của phim ảnh – một loại hình thức nghệ thuật hiện đại mới ra đời, có công chúng đông đảo. Họ sớm nhận ra cái hay, cái lợi và sức mạnh của thứ nghệ thuật mới mẻ này qua sản phẩm của nó là những bộ phim đến với người xem. Trước hết là góp phần nâng cao dân trí. Với lòng mong muốn cháy bỏng ấy, họ đã bắt tay vào việc để thử sức mình và thời vận cuả mình với cái “nghề Xi-nê”.
Mạo hiểm dấn thanh đầu tiên vào lĩnh vực làm phim điện ảnh là những nhà nhiếp ảnh- chủ hiệu chụp hình. Bởi lẽ kiên thức và tay nghề của họ trong cái nghề làm ảnh là điều kiện rất thuận lợi cho họ tiếp cận với cái nghề làm phim. Nghề nhiếp ảnh đã có bề dày 56 năm- một chặng đường dài, tính từ ngày hiệu ảnh đầu tiên mang bảng hiệu Cảm Hiếu Đường của vị sĩ phu yêu nước Đặng Huy Trứ khai trương ở phố Thanh Hà, nay là phố Ngõ Gạch, Hà Nội (chủ nhật, 14-3-1869) và năm ra đời của bộ phim đầu tiên do người Việt Nam thực hiện là năm 1924 với bộ phim Một đồng kẽm tậu được ngựa.

Người làm bộ phim ấy là chủ hiệu ảnh Hương Ký ở Hà Nội, ông Nguyễn Lan Hương, đồng thời cũng là chủ hãng phim Hương Ký.
Hiệu ảnh Hương ký ở rất gần bờ hồ Hoàn Kiếm ngay là nơi có khách sạn Phú Gia. Và hãng phim Hương Ký cũng đặt trụ sở tại đó.
Theo báo chí, tư liệu lưu trứ ít ỏi có được và lưu giữ đến nay, người ta có thể tin rằng : Người Việt Nam đầu tiên tự mình đứng ra tổ chức việc sản xuất phim và trực tiếp viết lấy kịch bản, quay phim, dựng phim… là ông Nguyễn Lan Hương.
Qua báo chí hồi ấy, ta được biết :
Khoảng năm 1924 Nguyễn Lan Hương mới một người Pháp tới dạy cho mình nghề làm phim với số lương hậu hĩnh : 200 đồng tiền Đông Dương/tháng. Khi đã nắm được kiến thức cơ bản về điện ảnh và biết thao tác máy quay phim, ông bỏ số vốn 40.000 Phơ-răng (tiền Pháp) để mua 2 máy quay phim và các thiết bị, vật tư cần thiết cho việc làm phim, rồi lập ra hãng phim Hương ký.
Một đồng kẽm tậu được ngựa (dài 6 phút) là phim truyện hài nhái truyện ngụ ngôn Nàng Pê-rét và bình sữa của nhà văn Pháp nổi tiếng La Phong – ten. Phim kể chuyện một người Việt Nam nghèo túng có một đồng chinh (do làm bằng kẽm, nên dân nước ta hồi đó gọi là đồng kẽm), đem mua hạt cải giống về trông, khi cải lớn thì thu hoạch đem bán và mua trứng gà về ấp, gà lớn lại đem bán… Và cứ thế dần dần tích cóp đủ tiền mua được một con ngựa.
Nội dung phim sơ sài.
Kỹ thuật phim yếu kém.
Do vậy, MỘt đồng kẽm tậu được ngựa không gây được ấn tượng trong khán giả.
Nhưng chỉ sau đó ít tháng Nguyễn Lan Hương đã đạt được thành công lớn: Ngày 1 tháng 5 năm 1926 ông đưa ra trình chiếu 2 phim phóng sự Ling Lăng (còn được gọi bằng cái tên nôm na Đáng tang vua Khải Định ) và lễ tần tôn Đức vua Bảo Đại. Hai phim này chiếu liên tiếp 27 ngày đêm tại Hà Nội, người xem rất đông, đạt hiệu quả cao về mặt tài chính.
Sự kiện này không làm hài long bộ mày cai trị thuộc địa của Pháp ở Việt Nam. Còn công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương thì lại không thể nào chấp nhận sự thành công ang dội của hãng phim Hương Ký, vì nó bị thất bị liên tiếp 2 phim Kim Vân Kiều và Tư Phú trong 2 năm 1924-1925, với số tiền lỗ vốn rất lớn.

Tiếng vang về sự thành công của ông Nguyễn Lan Hương trong lĩnh vực làm phim ở Việt Nam bấy giờ đã dẫn đến cơ may mới: Ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được mời đi làm phim ở nước ngoài, khi vị tỉnh trưởng Vân Nam ( Trung Quốc)- tướng Long Vân – đặt hàng ông 2 phim phóng sự. Một trong hai phim ấy, phim Đám ma tướng Đường Kế Nghiêu (1929), được ọi là để lại bên kia biên giới ấn tượng rất tốt đẹp về nhà làm phim Nguyễn Lan Hương.
Chia tay với tướng Long Vân, Nguyễn Lan Hương về nước với hoài bão dựng nghiệp làm phim của người Việt Nam có qui mô lướn và làm ăn phát đạt. Nhưng rồi người ta không thấy Nguyễn Lan Hương làm thêm một phim nào nữa, mà lặng lẽ giã từ điện ảnh , trở lại tiếp tục hành nghề nhiếp ảnh.

Báo chí không nói gì nữa về ông, cũng không nhắc tới phim của ông…Người ta ngầm hiểu rằng người Pháp ở thuộc địa này không cho phép ông cạnh tranh với công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương và nhất là không muốn có một nền nghệ thuật điện ảnh của người Việt Nam.
Hãng sản xuất phim của người bản xứ, làm ra “phim bản xứ”, hãng Hương Ký – bị chết yểu là điều không có gì khó hiểu.
Hãng phim Hương Ký tồn tại không lâu, nhưng nó đã kịp ghi một dấu ấn từ khá sớm về mầm mống đầu tiên, được coi như là một động thái sớm nhất của bước đi ban đầu trong quá trình chuẩn bị cho sự hình thành nền nghệ thuật Điện Ảnh Việt Nam trong tương lai. Và, ông Nguyễn Lan Hương chính là người đầu tiên trong số những điện ảnh gia tiên phong của nước ta trong những năm 20 và 30 của thế kỷ XX. Những phim do hãng Hương Ký sản xuất còn nói lên một điều quan trọng  khác là : Người Việt Nam đã từng có phim của mình vào gần cuối “thời kỳ phim câm” của điện ảnh thế giới.
Từ đó hoạt động sản xuất phim của người Việt Nam phải ngừng hoàn toàn suốt 7 năm liền (1930 -1936).

II.2 Sự xuất hiện thế hệ thứ hai của các nhà điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam

Những năm 30 thế kỷ XX ở Việt Nam đã diễn ra những sự kiện lịch sử quan trọng, như Đảng Cộng Sản Đông Dương thành lập 3-2-1930, khoải nghĩa Yên Bái (Đêm mồng 9- ngày 10-2-1930), Xô Viết – Nghệ Tĩnh (12-9-1930 đến tháng 6-1931), cuộc nổi dậy đấu tranh của nông dân Huyện Tiền Hải – Thái Bình (14-10-1930), Mặt trận Dân chủ Đông Dương ra đời và Phong trào Đông Dương Đại Hội sôi nổi (8-1936)…Và cũng trong những năm ấy cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cũng liên tiếp xảy ra, như phong trào đấu tranh của công nhân xe lửa Đà Nẵng – Nha Trang (3-1932), cuộc tổng bãi công toàn bùng mỏ than Hồng Gai (23-11-1936), phong trào đòi dân chủ nhân cuộc đón Gô-đa (Gordard) từ Pháp sang (1-1937), cuộc mít tinh đòi dân chủ và cải thiện sinh nhân kỷ niệm ngày Quốc Tế Lao Động 1-5 của 25.000 người Hà Nội (1-5-1938),vv…

Những năm ấy cũng lần lượt xuất hiện thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam: nước Pháp bị suy yếu trong một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào những năm 1929-1936; mặt trận bình dân ở Pháp thắng lợi trong cuộc bầu cử lập chính phủ, nới lỏng ách cai trị hà khắc đối với thuộc địa; các thế lực phát xít ở những nước Đức, Ý, Nhật Bản ráp riết chuẩn bị chiến tranh thế giới thứ hai nhằm đòi chia lại và giành chiếm thuộc địa của các đế quốc Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,… khiến Pháp bận tâm dồn sức lo đối phó…


Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhạy bén nắm bắt thời cơ, có sách lược và chiến lược đấu tranh đúng đắn đưa cách mạng vượt qua những bước đường khó khăn, tiến lên phía trước. Một bộ phận của Đảng được chỉ đạo tranh thủ thời cơ thuận lợi, đẩy mạnh hoạt động – kể cả hoạt động nửa công khai. Đảng lãnh đạo Mặt trận Dân chủ Đông Dương tập hợp rộng rãi các phần tử tiến bộ , yêu nước trong những tầng lớp xã hội, những nhóm chính trị, tôn giáo, văn hoá…góp phần đưa tới phong trào cách mạng.

Bộ máy thống trị thuộc địa của Pháp tuy không hung hãn, tàn bạo song cũng có những thừoi điểm chúng buộc phải chùn tay, tìm cách lừa mị nhân dân Việt Nam.
Tình hình nói trên được những người tri thức, văn nghệ sĩ, những người làm báo và các nhà hoạt động xã hội triệt để lợi dụng và khai thác, làm lợi cho mình trong các hoạt động xã hội và trong việc làm ăn, nhất là vào nửa sau những năm 30, thế kỷ XX. Nhiều báo tạp chí chữ quốc ngữ lần lượt ra đời. Loại hình nghệ thuật sân khấu kịch nói bắt đầu hình thành và phát triển nhanh. Ở lĩnh vực văn học, ngoài nhóm Tự Lực văn đoàn và tiểu thuyết thứ bẩy, đã xuất hiện những nhà văn hiện thực phê phán (Vũ Trọng Phung, Nguyễn Công Hoan…)

Từ tình hình và bối cảnh lịch sử đó, thế hệ thứ hai các nhà điện ảnh đầu tiên của Điện ảnh Việt Nam đã xuất hiện.
Đối với họ, chuyến viếng thăm Hà Nội và Sài Gòn cảu Vua Hề Sác-lô (Charlot), tức thiến tài điện ảnh Sac-li Sa –Lơ-panh (Charlie Saplin), và vợ ông nàng Pô-lét Gô-đa (Paulette Godart), vào năm 1937 làm tăng thêm lòng ham muốn cháy bỏng của họ đối với sự ra đời nghệ thuật điện ảnh trên đất nước Việt Nam.

Đáng chú ý là hoạt động của họ thoạt nhìn thì tưởng chừng đso chỉ là sự ngẫu nhiên và sự tự phát một cách lẻ tẻ, nhưng đến khi xem xét kỹ hơn người ta nhận thấy hấu như ở cùng một thời điểm- những năm 1936-1939, đã xuất hiện những tổ chức và nhóm làm phim ở cả Hà Nôi, Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long. Mà bắt đầu là sự ra đời cau rmột hội có tên là An Nam nghệ sĩ đoàn (1936) ở Hà Nội, với các thành viên: Nguyễn Doãn Vượng (Khi ấy đang là chủ bút báo tuần Trung Bắc Chủ Nhật), Đàm Quang Thiện, Nguyễn Dương, Nguyễn Phổ, Lê Huyên, Nguyễn Xuân Hiệp… thnàh viên của An Nam nghệ sĩ đoàn là những thanh niên trí thức, văn nghệ sĩ giàu nhiệt huyết với hoạt động văn hoá nghệ thuật, có tinh thần tiến bộ và yêu nước. Họ đặc biệt yêu thích nghệ thuật điện ảnh – thức nghệ thuật mới mẻ có sức cuốn hút đông đảo khán giả, qua nó dễ dàng và nhanh chóng chuyển tải tới công chúng những ý tưởng lâu nay họ hằng ấp ủ. Họ có lòng tự tin vào tài nang, trí tuệ của mình, mong muốn tha thiết về sự hình thành một nền điện ảnh của người Việt Nam. Họ có mọi thức. trừ tiền vốn và máy mọc, phương tiện làm phim.Có thể, trong bước đầu, thuê chuyên viên lành nghề và thiết bị làm phim từ Hồng Kông-một nhượng địa của đế quốc Anh, khi ấy đã có tiềm lực mạnh mẽ về điện ảnh. Tình thế “trong tay không có đồng tiền” buộc họ phải tìm kiểm sự trợ giúp về tài chính của các thương gia.
Đầu năm 1937, một thương gia người Hoa ở Hải Phòng tề là Trịnh Lâm Ký có ý định thử làm một bộ phim nói tiếng Việt, để thăm dò khả năng đầu tư vốn kinh doanh vào lĩnh vực này. Ngẫu nhiên một lần thương gia Trịnh Lâm Ký gặp một trong những thành viên chủ của An nam Nghệ sĩ đoàn là Nguyễn Doãn Vương. Họ đã cùng nhau điều định việc viết kịch bản phim và đưa đoàn diễn viên người Việt Nam sang Hồng Kông để quay phim. Mọi việc đang được chuẩn bị gần xong thì xảy ra cuộc chiến tranh Trung-Nhật. Ông Trịnh Lâm Ký bỏ dở công việc.
Nhóm các ông Nguyễn Doãn Vượng, Đàm Quang Thiện…lại đi vận động mấy người giầu có ở Hà Nội bỏ tiền ra làm phim, nhưng không thu được kết quả gì.

II.3 An Nam nghệ sĩ đoàn và bộ phim hợp tác cánh đồng ma
Những năm 1938 – 1940 là thời điểm để lại dấu ấn đậm nét về những mầm mống đầu tiên và thời sơ khai của Điện ảnh Việt Nam.
“Phim nó” Cánh đầu ma ra đời trước nhất.
Cuối tháng 11-1937 An Nam nghệ sĩ đoàn ký đưeowcj hợp đồng hợp tác làm phim với chủ rạp chiếu bóng ở phố Hàng Bạc, Hà Nội, tên là Pac Sung Kinh – đại diện cho Lý Trữ Phú là chủ của công ty điện ảnh Nam Trung Hoa (The South China Motion Picture Co.) thường gọi là hãng Nàm Duyệt, tại Hồng Kông – với những điều khoản rất khắt khe và bất lợi cho phía nghệ sĩ Việt Nam. Đó là:
- Phía An Nam nghệ sĩ đoàn: Viết kịch bản, cung cấp 22 diễn viên đảm nhiệm diễn xuất của hết thảy mọi nhân vật chính phụ của phim: tự chi tiền vé tàu biển khứ hồi Hải Phòng- Hồng Kông- Hải Phòng; chi tiền thù lao đóng phim cho các diễn viên; được hường 15% lợi nhuận sau khi trừ toàn bộ chi phí.
- Phía công ty điện ảnh Nam Trung Hoa: cử người làm đạo diễn, quay phim, cùng các chuyên viên, kỹ thuật viên làm phim, sản xuất phim, cung cấp máy móc, trang thiết bị quay phim, làm hậu ký phim và in hàng loạt các bản phim chiếu; chi phí cho các phần việc do hãng đảm nhận; được hưởng 85% lợi nhuận.
Ngày 25 tháng 12 năm 1937 đaoàn diễn viên Việt Nam đáp tàu Kinh Châu từ Hải Phòng đi Hồng Kông.
Vừa mới đặt chân lên đất Hồng Kông, sau khi đã vượt qua chặng đường 6 ngày đêm lênh đênh trên biển, tác giả kịch bản và các diễn viên Việt Nam đã phải chịu đựng những chuỗi ngày nặng nền với tình cảnh họ bị công ty điện ảnh Nam Trung Hoa ức hiếp, đối xử thô bạo.
Tác giả kịch bản Nguyễn văn Nam- bút danh của Đoàn Quang Thiện-“đưa ra luận thuyết khoa học và di truyền” diễn tả tâm trạng của Hùng, một sinh viên trường thuốc học hành rất thông minh, nhưng vì xuất thân trong một gia đình bất hảo ( cha là trai giang hồ, mẹ là gái từ chiếng), nên càng hấp thụ được khoa học, những hành động sai lầm của anh càng ghê gớm hơn”. Cốt truyện phim như thế đòi hỏi nhiều sự nỗ lực của diễn xuất và kỹ thuật. Nhưng công ty điện ảnh Nam Trung Hoa và đạo diễn Trần Phì, với mục đích kiếm nhiều lãi đã đơn phonwg tự ý sửa kịch bản, biến nội dung phim thành “một câu chuyện trinh thám, lấy máu và đàn bà để hốt bạc.”
Sự phản đối quyết liệt của phí An Nam nghệ sĩ đoàn và các diễn viên Việt Nam, kể cả biện phpá đấu tranh bằng cách không chịu đóng những cảnh do phía công ty điện ảnh Nam Trung Hoa sửa đổi, thêm thắt, bịa đặt những tình tiết vô lý vào kịch bản phim mà đôi bên đã thoả thuận, đều không đem lại kết quả gì, bởi họ yếu thế do góp được ít vốn, lại ở nơi đất khách quê người. Đã vậy, lãnh sự quán Pháp tại Hồng Kông là đứng về phía kẻ ức hiếp họ, gây áp lực buộc học phải nghe theo công ty này.
Cuối cùng họ đành miễn cưỡng chấp nhận, đóng cho xong phim để mà về nước. Thế là họ phải diễn xuất thể hiện nhân vật, lời thoại mới trước ống kính ngay tại trường quay với tâm trạng uất ức, phẫn nộ.
Sau 13 ngày đêm làm việc cật lực do sự hổi thúc của công ty điện ảnh Nam Trung Hoa, phim cánh đồng ma quay xong ngày 30 tháng 1 năm 1938 (29 tháng chạp năm Đinh Sửu). Liền sau đó, ngày 1 tháng 2 năm 1938 (mồng hai Tến năm Mậu Dần) Công ty điện ảnh Nam Trung Hoa đã đuổi số đông người trong nhóm đoàn diễn viên Việt Nam ra khỏi nơi ở, trừ 6 người công ty này đã dụ dỗ, mua chuộc được ở lại đóng thuê trong phim Trận Phong ba. 14 diễn viên Việt Nam phải chạy vạy vay tiền mua vé tầu biết rời Hồng Kông về nước ngày 8 tháng 2 năm 1938. Trước họ đã có 2 người, do không chịu nổi sự bị ức hiếp và đói xử quá thô bạo của công ty điện ảnh Nam Trugn Hoa, đã tìm cách sớm trở về Việt Nam.
Phim Cánh đồng ma, mặc dù hoàn thành sản xuất trước và  đã được in sao ra những bản phim để chiếu, bị kìm giữ lại, phải ra mắt công chúng khán giả điển ảnh Việt Nam sau phim Trận Phong ba.Nếu như Cánh đồng ma là phim hợp tác Việt Nam- Hồng Kông, thì Trận phong ba trăm phần trăm là sản phẩủa công ty điện ảnh Hồng Kông, tuy truyện phim nói về người Việt và do người Việt đóng thuê. Tròn ddán lận còn đen ấy đã fgây ra sự ngộ nhận một thời trong khán giả điện ảnh nước nhà về cái mác “ Phim Việt Nam” và về “ngôi vị” ra đời trước tiên của nó so với những phim truyện Việt Nam địch thực được trình chiếu trong ba năm 1938 – 1940.
Sự tráo trở đó của công ty điện ảnh Nam Trung Hoa đã gây nên dư luận bất bình mạnh mẽ và còn khéo dài ỏ nước ta nhiều năm sau- với 2 bài báo đầu tiên nói về vụ đó: Bài Đàm Quang Thiện – bước đầu trong nghề điện ảnh (tác giả Nhị Lang, báo Trung Bác tân văn số ra ngày 26-2-1938) và bài do chính Đàm Quang Thiện viết phanh phui những “cú lừa ngoạn mục” của công ty điện ảnh Nam Trung Hoa ( báo Trung Bắc tân văn, số ra ngày 2-4-1938).
Tuy ghi nhận “cánh đồng ma kể thì có hơn phim Trận phong ba một chút”, nhưng dư luận báo chí và khán giả điện ảnh bấy giờ đều chê trách những yếu kém của phim và lưu ý các ông Nguyễn Doãn Vượng, Đàm Quang Thiện và các diễn viên Việt Nam: “Cũng như ở các nghệ thuật khác, xin chớ làm cái gì tầm thường về văn chương, hội hoạ, diễn kịch hay phim ảnh: làm cái gì tốt, không có thì thôi. Chỉ có điều kiện ấy chúng ta mới tiến”. Còn nhà văn Nguyễn Tuân, người đóng vai khán hộ trong phim Cánh đồng ma, sau này trong một hồi ký Một Chuyến đi đã viết rằng:  “Phim ấy quả là một trò rối!”
Phim Trận Phong Ba khởi quay ngày 6 tháng 2 năm 1938 (ngày 7 tháng giêng năm Mậu Dần), từ chỉ 6 ngày sau khi kết thúc cảnh quay cuối cùng của phim Cánh đồng ma.
Truyện phim Trận phong ba kể về “cuộc đời cua rmột học sinh gốc nông thôn được cha mẹ nuôi nấng, cho đi học ở thành thị và đã sa ngã trong “gió bụi kinh thành”. Rốt cuộc bị cha mẹ bỏ rơi, bợ hiền dứt tình, nên anh đã tự tử để thoát đời trần tục”. Cốt truyện do Trần Hữu Kim gợi ra và do công ty điện ảnh Nam Trung Hoa cử người nhanh chóng soạn thành kịch bản phim.
Trần Hữu Kim, thuộc nhóm 6 người nghe theo sự dụ dỗ của công ty điện ảnh Nam Trung Hoa mà ở lại đóng thuê phim Trận Phong ba, đóng vai Kim chàng công tử ăn chơi ở thành phố. Cả 6 người trong nhóm đều chỉ đảm nhiệm các vai phụ trong phim Cánh đồng ma vừa kết thúc cnảh quay cuối cùng trước đó 6 ngày. Thiếu 5 người đóng các vai thứ, vai phụ, chảu công ty – Lý Trữ Phú- cho đi thuê những người Việt, khi đó đáng thất nghiệp ở Hồng Kông. Phim được làm một cách vội vã, cẩu thả (để đưa sang Việt Nam chiếu trước phim cánh đồng ma, và tất nhiên là nhằm thu lời riêng cho Lý Trữ Phú), cho nên phim lôm côm, “đầu Ngô, mình Sở”. Bởi vậy, khi Trận phong ba đưa sang chiếu ở Việt Nam thì gây nên “một trận phong ba” thực sự và kéo dài. Nó bị những người xem phản đối kịch liệt, la ó ầm rạp và cả trên đường từ rạp về nhà. Báo chí ở Việt Nam hồi ấy cũng chỉ trích, phê phán nặng nề Trận phong ba, và cũng đăng tải cả những ý kiến chê trách với thái độ phẫn nộ của các khán giả ở đường phố và nơi thị tứ tỉnh xa. Dưới tiêu đề “Khách lừa ta”, báo Trung Bắc tân văn số ra ngày 17 tháng 4 năm 1938, phản ánh dự luận của khán giả Thái Bình phê phán chủ phim “… lợi dụng lòng ham mới của dân An Nam…, khêu gọi lòng tò mò của bà con tỉnh Thái Bình bằng câu: “Phim nói tiếng Việt Nam của người Việt Nam đóng. Một phim hoàn toàn hay về mọi phương diện mỹ thuật và Văn Chương”; và cho biết “Dân tỉnh Thái Bình tin lời kéo nhau đi xem rất đông. Mấy người Tàu sung sướng nhét tiền vào đầy túi” Khán giả này bày tở ý kiến mong “bà con tình Thái bình đừng cho ai đánh lừa”, vì … “thu được lợi chúng sẽ cười vào dân An Nam mình”.
Riêng với nhóm 6 người, do Đào Huấn Ngữ và Trần Hữu Kim “dẫn dắt”, cũng bị dư luận trong nước lên án gay gắt là tiếp tay cho chủ công ty điện ảnh Nam Trung Hoa làm “hàng giả dán nhãn hiệu Việt Nam”, là phản bội lợi ích của điện ảnh nước nhà khi nó còn trong trứng nước. Tuy vậy, cũng có một số người dù giận vẫn tỏ ra thông cảm phần nào việc làm sai trái của họ, coi đó là “một lần lầm lỡ đáng tiếc” của “những người có tâm huyết với nền nghệ thuật thứ bảy ra đời trong tương lai của nước nhà”, khi họ mất đi sự tỉnh táo cần thiết trước niềm say mê, háo hức có được thêm cơ hội đóng phim. Trong số họ có người bốn chục năm sau đó vẫn chưa dứt nỗi ân hận trong lòng về sự trót dại một lần ở nơi đất khách quên người.
Sau Cánh đồng ma, các nghệ sĩ thuộc An nam nghệ sĩ đoàn trong năm 1938 còn tham gia đóng trong 2 phim truyện nổi tiếng Pháp do hãng Phơ-răng-con Phim thực hiện tại vùng Móng Cái, Hải Ninh (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh), rồi không tiếp tục một hoạt động điện ảnh nào khác nữa.Họ là những người có lòng yêu vô bờ bến đối với nghệ thuật điện ảnh, nhưng tất cả mọi người trong hội củ họ đều nghèo, nên không gom góp được vốn để làm phim.
Tuy thời gian hoạt động về điện ảnh rất ngắn, chỉ vẻn vẹn 2 năm, nhưng các việc làm của những người thuộc An nam nghệ sĩ đoàn xứng đáng được lịch sử điện ảnh nước nhà ghi nhận: họ là những người Việt Nam đầu tiên khởi đầu công việc hợp tác làm phim với nước ngoài-tuy không xuôi chèo mát mái như ta đã biết.
II.4 Hãng phim Á Châu và những phim truyện của Nguyễn Văn Đinh
Hãng phim Á Châu (Asia Films) ra đời tại Phú Lâm, Sài Gòn, vào khoảng cuối năm 1937. Chủ hãng đĩa hát Asia Nguyễn Văn Đinh- một kỹ sư say mê nghệ thuật điện ảnh – đã bỏ ra số vốn lớn 150.000 đồng Phơ-răng (tiền Pháp) mua của hãng Ê-cơ-le (Éclair) ở Pa-ri Pháp các máy móc thiết bị, vận dụng cần thiết, để tự mình thực hiện mọi công đoạn sản xuất “phim nói” cỡ 35mm đầu tiên ở Việt Nam. Ngay đầu năm 1938 hãng phim Á Châu tuyển chọn diễn viên và khởi quay từ giữa năm ấy bộ phim truyện Trọn với Tình (kịch bản mgan tên Còn duyên nợ) có thời lượng chiếu 90 phút, trên phim nhựa cỡ 35mm đen – trắng. Cuối năm 1938, phim Trọn với tình hoàn tất khâu hậu kỳ. Số kỹ thuật viên của hãng đĩa hát Asia là lực lượng chủ chốt thực hiện hoàn toàn mọi phần việc về kỹ thuật sản xuất phim.Đạo diễn phim là nghệ sĩ cải lương nổi tiếng Tám Danh (Nguyễn Phương Danh) chưa từng một lần tham gia làm phim. Còn kịch bản, quay phim, dựng phim đều do Nguyễn Văn Đinh đảm nhiệm.
Dư luận báo chí và xã hội khi ấy rất khen ngợi, cổ vũ Nguyễn Văn Đinh về ý chí tự lực tự cường, mạnh dạn tự mình tổ chức thực hiện mọi công đoạn sản xuất phim ở xưởng phim của riêng mình tại xứ sở của mình, không phụ thuộc vào những người Pháp hành nghề điện ảnh ở bên “chính quốc” hoặc ở thuộc địa Việt Nam. Song, hãng phim Á châu hoàn toàn không hề có những người tinh thông nghề nghiệp sáng tác và kỹ thuật sản xuất. Tu nghiệp một thời gian ngắn tại Pari khi đến đó tìm mua sắm máy móc, trang thiết bị và dụng cụ làm phim, Nguyễn Văn Đinh chỉ có thể nắm được kiến thức về tổ chức sản xuất phim, chứ ông chưa thể kịp đạt tới mức hiểu biết sâu và thực tập cho thạo tay nghề về viết kịch bản, đạo diễn, quay phim, dựng phim.
Tay nghề thấp và trình độ kỹ thuật non yếu không thể tạo ra một tác phẩm hay! Chất lượng của phim Trọn với tình thực sự thuộc loại kém cỏi.
Trọng với tình ra mắt khán giả Sài Gòn, Chợ Lớn, đầu năm 1929 chậm hơn phim Cánh đồng ma hơn nửa năm. Sau buổi chiếu ra mắt tại rạp Casinô, Sài Gòn (nay là rạp Vinh Quang ỏ đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), Trọn với tình được đông đảo công chúng kéo đến xem trong nhiều ngày. Tuy chê phim truyện dở, kỹ thuật tồi, người ta vẫn đến rạp xem không phải chỉ để xem diễn viên trẻ, đẹp mà còn vì sự thích thú bời bộ “phim nói” 35mm hoàn toàn do người Việt Nam làm ra.
Lời chê phim Trọn với tình xuất hiện trên nhiều báo. Riêng Trung Bắc tân văn- một tờ báo vốn rất có cảm tình, luôn cổ vũ nâng đỡ những phim đầu tay của các nhà điện ảnh tiên phong nước ta hồi ấy- không có bài viết cảu báo mình phê phán Trọn với tình, mà chỉ dẫn ra lời tờ báo khác đòi “phải choong Đinh này về vườn, vì ông chưa biết gì về xi-nê cả”, nhằm lưu ý hãng phim Á Châu và tác giả chính Nguyễn Văn Đinh cề chất lượng phim, là một cử chỉ đẹp với thái độ công bằng và khách quan.
Có lẽ thành công đáng kể nhất của Nguyễn Văn Đinh ở phim Trọn với tình là đã phát hiện và tạo điều kiện cho chàng học sinh trung học Nguyễn Văn Của đẹp trai, có sở thích diễn kịch, hoạt động nghệ thuật, qua lần đóng phim (vai nam chính, đồng thời là trợ lý đạo diễn) đã sớm phát lộ năng khiếu diễn xuất diện ảnh.
Ở một số chương sau cảu cuốn sách này, tên diên viên Nguyễn Văn Của bạn đọc sẽ còn bắt gặp với nhân vật Mười Hợi trong phim Chị Tư Hậu ( đạo diễn PHạm Kỳ Nam)- một thành công nổi bật của ông – và những vai khác, những phim khác do ông làm đạo diễn hoặc phó đạo diễn.
Các bộ phim sau của hãng phim Á Châu, vẫn do Nguyễn Văn Đinh viết kịch bản, đạo diễn, quay phim, dựng phim, đưa ra chiếu vào cuối năm 1939 ( Cô Nga dạo thị thành) và năm 1940. (Khúc khải hoàn, toét sợ ma – phim hài) cũng có chất lượng nghệ thuật, kỹ thuật không hơn Trọn với tình là mấy.
Những phim ấy không có cơ hội thu hút được số đông công chúng đến xem, dù hãy còn đó niềm vui và tự hào nơi khán giả về cái sự người Việt Nam đã cso hẳn một xưởng phim với đầy đủ máy móc, thiết bị, dụng cụ làm phim của riêng mình, và tự mình làm lấy mọi việc ở mọi khâu sản xuất phim.
Bởi lẽ, điều mà họ mong đợi ở hãng phim Á Châu này là những bộ phim có chất lượng cao hơn.
Từ cuối năm 1940 hãng phim Á Châu tạm ngừng hoạt động. Đến cuối nửa sau thập kỷ thứ năm thế kỷ XX hãng này mới lại tiếp tục sản xuất phim, cũng ở tại Sài Gòn-khi ấy thuộc vùng kiểm soát của chính quyền miền Nam Việt Nam do người Mỹ dựng nên.
II.5 Nguyễn Tấn Giàu và hãng Việt Nam phim
Gần như trong cùng thời gian hãng phim Á Châu ra đời, cũng tại Sài Gòn xuất hiện một nhóm có tên là Hội những chuyên gia kỹ thuật và nghệ sỹ điện ảnh An Nam (tên theo tiếng Pháp là Association des techniciens et artistes du cinema annamite – viết tắt là ATéacinéa), gồm các ông:
- Lê Hữu Phương, Lê Tài Hoà- hai chủ doanh nghiệp người Nam Kỳ.
- Võ Khắc Thiệu – chủ bút báo Tân Tiến, người Trung Kỳ.
- Vũ Năng An – nhà nhiếp ảnh trẻ và Nguyễn Văn Minh – có biệt danh Ha-ri Minh (Harry Minh) – mới từ “kinh đô diện ảnh” Hô-li-út (Holllywood) của Mỹ về Sài Gòn, người Bắc Kỳ.
Bấy giờ ông Nguyễn Văn Minh dang cộng tác với nhà đạoi diễn điện ảnh người Đức Pa-bơ (G.W .Pabst), quay ngoại cảnh cho bộ phim truyện Câu chuyện Thượng Hải (Le Drame de shanggai).
- Và hai thành viên nữa, người Nam Kỳ, là 2 chủ hiệu chụp ảnh có tiếng ở Sài Gòn thời ấy: Nguyễn Tấn Giàu (Antoine Giàu) và Đỗ Hữu Thơm (Géo Thơm). Hai người này vừa từ Pa –ri (Paris) trở về Sài Gòn sau một thời gian tu nghiệp ở bên đó về nghề làm phim. Họ có mang theo về nước máy quay phim cỡ 16mm nhãn hiệu Pay-a Bô-lếch (Paillard Bolex), do Thuỵ Sĩ sản xuất, cùng một số thiết bị, vật dụng làm phim.
Hội những chuyên gia kỹ thuật và nghệ sĩ điện ảnh An Nam ban đầu tính chuyện làm ăn lớn, với một kế hoạch dự định lâu dài như: Xây dựng trường quay để cho thuê quay những nội cảnh phim truyện; sắm đầu đủ các loại máy móc, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật sản xuất phim để cho các nhà làm phim ở trong nước thuê sử dụng (bao gồm cả quay phim, thu tiếng nhạc, lời thoại và hoà âm, nhân từ bản gốc ra nhiều bản). Nhưng xhọ mới chỉ bắt đầu rục rịch chuẩn bị tiến hành những việc đầu tiên, thì từng người trong Hội này đã bị Sở Lục hình (Service d’Identité) của chính quyền thuộc đại Nam Kỳ gọi đến để thẩm vấn, cảnh cáo. Lo sợ bị bắt bớ, tù đày, các thành viên của Hội những chuyên gia kỹ thuật và nghệ sĩ điện ảnh An Nam nhanh chóng rút lui. Và, vì vậy, hội này lặng lẽ tan rã. Trong số những thành viên của Hội này, Nguyễn Tấn Giàu và Đỗ Hữu Thơm là sớm thực hiện bước vào nghề điện ảnh, khi họ hợp tác với một số thành viên của Hội Ái hữu Nghệ thuật (Association de I’art) thường được gọi tắt là “hội kịch” lập ra hãnh Việt Nam phim (Vietnam films).
Kịch sĩ trẻ Khương Mễ và học sĩ –giáo sư dạy học vẽ HỒ Văn Lái từ ấy bén duyên điện ảnh.
Hãng Việt Nam Phim ra mắt với bộ phim Một buổi chiều trên sông Cửu Long (1939), trên cỡ phim 16mm, có thời lượng chiếu 90 phút, với âm thanh ngoài phim (nhạc, lời, tiếng động được thu vào đĩa; mở đĩa phát âm thanh kèm theo hình ảnh khi chiếu phim). Về thực chất, Một buồi chiều trên sông Cửu Long vẫn thuộc dạng “phim câm”. So với “phim nói” Trọn với tình của hãng phim Á Châu, cùng ra mắt người xem một năm, thì kỹ thuật “âm thanh ngoài phim” của nó quả là hậu quả thập kỷ!
Một buổi chiều trên sông Cửu Long do Nguyễn Tấn Giàu viết kịch bản, đạo diễn kiêm quay phim là điền chủ ở Bạc Liêu Chung Bá Khánh. (Sau có một người nữa tên Huỳnh Văn Nhiệm hùn thêm vốn). Ông Khánh chưa từng một lần bỏ ra yêu thích cái thứ “nghệ thuật cao sang và hấp dẫn lạ lùng”.Mà chỉ vì ông ta say mê “thần tượng” nữ diễn viên kịch nói Lu-xi Tân (Lucic Tân) – người đóng vai con gái lão Ác-pa-gông (Harpagon) trong vở kịch Gã hà tiện (I’Avare) của văn hoà Pháp Mô-li-e (Moloere), do Hội Ái Hữu Nghệ thuật tổ chức biểu diễn – được đóng vai cô gái Thu Sương trong phim Một buổi chiều trên sông Cửu Long.Dẫu rằng vì lý do tế nhị, mà cũng thú vị đó, các ông Chung Bá Khánh và Huỳnh Văn Nhiệm vẫn có thể được xem là các nhà tài trợ đầu tiên cho giới làm phim Việt Nam.
Một buổi chiều trên sông Cửu Long có cốt truyện làm xúc động tâm hồi người xem: Kể về nỗi bất hạnh của một cô gái mảnh mai đẹp người, đẹp nết Thu Sương, bị cha là viên ngoại Thạch Tâm ép gả cho con trai một trọc phú ít học, cục mịch và thô lỗ đã cùng người yêu trốn chạu ngay trong đêm tân hôn. Người đó trượt chân xuống thác nước. Cô chôn cất chàng, rồi tìm đến một ngôi chùa xuống tóc đi tu.
Các bạn diễn trong phim này cùng Lu-xi Tân đều là những diễn viên kịch nói thuộc Hội Ái Hữu nghệ thuật : Khương Mễ (con trai trọc phú), Nguyễn Văn Dĩ (Xuân Khang, chàng trai thành thị - người yêu của Thu Sương), Lý Quốc Mậu (cha của Thu Sương). Từ một buổi chiều trên sông Cửu Long, đối với họ, điện ảnh trở thành duyên nghiệp.
Vì không có trường quay, hãng Việt Nam phim khắc phục bằng cách quay hầu hết số cảnh phim ở ngoài trời, tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, và nhiều hơn cả là ở vùng Biên Hoà (núi Châu Thời, suối Xuân Trường, thác Trị An…), cùng máy cánh đồng quốc lộ 1.
Nhằm giảm chi phí sản xuất, Võ Văn Nghiêm – người trợ thủ đắc lực cảu Nguyễn Tấn Giàu – cùng trong thời gian làm phim phải đảm trách nhiệm phần việc: Chuyên viên ánh sáng, nhiếp ảnh, phụ quay phim, phụ soạn nhạc đệm chop him.
Khác với hãnh phim Á Châu của Nguyễn Văn Đinh tự tráng lấy phim bản gốc, hãng Việt Nam phim của Nguyễn Tấn Giàu phải thuê tráng phim tại chi nhánh của hãng phim chụp ảnh Kô-đắc (Kodak).
Phim Một buổi chiều trên sông Cửu Long được chiếu ra mắt tại hội quán của Hội Cải thiện Đức dục, trí dục và thể dục – thể thao dành cho người bản xứ Nam Kỳ (Société pour I’ Amélio ration des Intellectuelle et Plysique des Indigènnes de la Cochinchine) – nơi các giới quan lại công chức, tri thức, văn nghệ sĩ và những người thuộc tầng lớp thượng lưu người Việt Nam thường lui tới. Tiếp sau đó phim này được chiếu vài lần ở Sài Gòn và Mỹ Tho, rồi hoàn toàn không thấy nó được đem chiếu ở một nơi nào nữa.
Không nản chí trước thất bại lần đầu, Nguyễn Tấn Giàu gắng thử sức mình và thời vận của mình một lần nữa. Ngay cuối năm 1939 hãng Việt Nam Phim bắt tay vào làm tiếp bộ phim truyện hài Lão thầy pháp râu đỏ và bộ phim tài liệu nghệ thuật Đèo ngang tức cảnh có sẻ dụng diễn viên diễn xuất, minh hoạc bài thơ nổi tiếng “qua đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan.
Phim Lão thầy pháp râu đỏ phê phán tệ nạn mê tín di đoan.
Đi đôi với khác thác những tình tiết hài, Nguyễn Tấn Giàu ra sức tận dụng các tính năng, tác dụng của máy quay phim cỡ 16mm Pay-a Bô-lếch (Paillard Bolex), do Thuỵ Sĩ sản xuất vào loại hiện đại nhất thời ấy – để sử dụng làm kỹ xảo các cảnh: người bệnh “xuất hồn” ra đi, hồn người chết lúc hiện tại lúc biến, người bay, một người biến thành hai, con ma bị bắt nhốt vào trong các lọ…
Những cảnh như thế làm cho người xem thích thúc, không để ý đến sự nhạt nhẽo, đơn điệu của nội dung phim.
Phim Đèo Ngang tức cảnh được quay lại Bửu Long (Biên Hoà), giả cảnh Đèo Nganh mà Bà Huyện Thanh Quan từng đi qua, cảm hứng cảnh non nước hữu tình xuất thần sáng tác bài thơ bất hủ. Lý Quốc Mậu trong vai chàng nho sĩ áo the, khăn xếp ngâm nga bài thơ “ Qua đèo Ngang” và tốp nữ diễn viên với những tấm áo tứ thân thể hiện các vai thôn nữ nơi danh thắng gợi người xem sự cảm nhận về hồn thơ lai láng của Bà Huyện Thanh Quan thuở xưa khi đặt chân đến chốn này – một cảnh quan hùng vĩ, nên thơ.
Qua những hình ảnh ấy và nhạc dân tộc đệm theo, tá giả phim ca ngợi non sông gấm vóc Việt Nam, khơi gợi nơi người xem tình yêu đất nước.
Tiếc rằng tay nghề và kỹ thuật yếu kém đã làm phương hại nhiều cái tứ hay của kịch bản phim.
Lão thầy pháp râu đỏ và Đèo Ngang tức cảnh “cũng chung số phần chết yểu” như Một buổi chiều trên sông Cửu Long.
Báo chí thời đó nói không nhiều về phim của Nguyễn Tấn Giàu. Dư luận chung cho rằng đó là những phìm còn ở trình độ nghiệp dư. Một số lời khen chỉ dành cho nội dung tiến bộ của phim, những cảnh kỹ xảo và các kết của phim Một buổi chiều trên sông Cửu Long. Thuở ấy cái kết “có hậu” (“qua cơ bi cực đến ngày thái lai”) là một thứ khuôn mẫu nhất thiết phải theo. Nhưng Nguyễn Tấn Giàu đã mạnh dạn làm ngược lại nhằm nhấn mạnh bi kịch của sự gả ép con gái: Đoạn kết của Một buổi chiều trên sông Cửu Long là cái chết của nhân vật Xuân Lang, Thu Sương khóc thảm thiết bên nấm mồ mới đắp của người yêu, sau đó nàng tới cửa Phật quy y.
Vào thời ấy một cái kết như vậy thể hiện cách nghĩ mới và cách làm mới của một tác giả phim có đầu óc tân tiến.
Trong bối cảnh xã hội thuộc địa Nam kỳ những năm 30 và 40 thế kỷ XX, các nhân tố ngoại lại luôn lấn át những nét thuộc về bản sắc dân tộc, mà Nguyễn Tấn Giàu và các cộng sự của ông đã làm ra được những phim có nội dung tiến bộ mang dáng vẻ của bản sắc văn hoá dân tộc là điều đáng trân trọng và khâm phục.
Mặc dù không để lại được ấn tượng sâu sắc và lâu dài trong khán giả điện ảnh, nhưng những bộ phim của hãng Việt Nam Phim đã góp phần cùng những bộ phim khác ra đời trong 3 năm 1938 -1940, tạo nên cái mốc về thời sơ khai của điện ảnh nước nhà, và là minh chứng về thế hệ thứ hai các nhà điện ảnh tiên phong giàu nhiệt huyết với sự nghiệp tạo dựng nền nghệ thuật điện ảnh của người Việt Nam trên đất nước Việt Nam.
II.6 Những người đồng hành với thời sơ khai của điện ảnh Việt Nam
Các nhà điện ảnh tiên phong trong thời sơ khai của điện ảnh Việt Nam không đơn độc. Họ luôn được sự đồng tình, ủng hộ và cổ vũ  của nhiều giới và tầng lớp xã hội, cả những cá nhân có thiện cảm với những người thiết tha cho sự nghiệp xây dựng một nền điện ảnh của Việt Nam.
Trí thức, báo giới và văn nghệ sĩ , do sớm được tiếp cận điện ảnh từ khi nó du nhập vào Việt Nam và luôn được xem các tác phẩm của điện ảnh thế giới chiếu tại các đô thị, nhanh chóng nhận ra tầm quan trọng và lợi thế của loại hình nghệ thuật hiện đại này tỏng việc nâng cao dân trí, vì nó “trực tiếp với toàn thể dân chúng, dễ cảm hoá lòng người”. Theo quan niệm của không ít người thời ấy, muốn biết “tinh thần của một nước nào ra sao, ta cứ coi những bóng hình, dáng điệu và cử chỉ biểu diễn trên màn ảnh thì ta đủ hiểu – tuy sự hiểu ấy chưa được hoàn toàn”.
Những tổ chức, tập thể với những cái tên như “Đoàn Tuồng Quảng Lạc”, “Hội kích uẩn hoa”, “An Nam nghệ sĩ đoàn”, “Hội những chuyên gia kỹ thuật và nghệ sĩ điện ảnh Annam”, “Hội ái hữu nghệ thuật”…không chỉ là bạn đường, mà hơn thế còn có công lớn trong công việc đã trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần làm ra những bộ phim của người Pháp làm về đất nước, con người Việt Nam, và đặc biệt làm ra những bộ phim của người Pháp làm về đất nước, con người Việt Nam, và đặc biệt là làm ra những bộ phim Việt Nam đích thực trong thời sơ khai của điện ảnh Việt Nam đích thực trong thời sơ khai của điện ảnh Việt Nam.
Những người đồng hành thuỷ chung và có công lớn nhất là những người thuộc giới báo chí, trước hết là các phóng viên, biên tập viên chuyên mục văn hoá, nghệ thuật, điện ảnh. Chính vì nhờ họ mà ngày nay ta mới được biết nhiều về những mầm mống và thời sơ khai của điện ảnh nước nhà.
Các báo ngày, báo tuần, tạp chí ra hàng tháng giới thiệu với bạn đọc của mình: Các nền điện ảnhvà nghệ sĩ điện ảnh nước ngoài; đăng quảng cáo bài giới thiệu hoặc bình luận phim, phổ biến kiến thức điện ảnh phổ thông, các nghề trong điện và các lợi ích do điện ảnh đem lại cho hoạt động nghệ thuật nước nhà và cho xã hội… Nhiều nhà báo viết những bài ủng hộ, khuyến khích người trong nước có điểu kiện đứng ra lập các hãng, nhóm làm “phim của xứ mình”, (nửa sau của những năm 20 và nửa sau của những năm 30 – thế kỷ XX).Những cây bút viết về diện ảnh giữ trọng trách trong các toà báo như: Nguyễn Doãn Vượng (chủ bút tuần báo Trung Bắc chủ nhật), Đặng Trọng Duyệt (chủ nhiệm báo Chớp Bóng), Bùi Văn Còn (chủ nhiệm báo Kịch Bóng), Nguyễn Văn Sanh (chủ nhiệm báo Đông Dương Chớp Bóng- Indo-ciné), Võ Khắc Thiệu (chủ bút báo Tân Tiến)…Và những cây bút được những người yêu thích điện ảnh biết đến nhiều, như là Lê Hữu Phương, Đàm Quang Thiện, Hoàng Phổ, Nguyễn Giang, Tùng Hiệp (Nguyễn Xuân Hiệp), Nguyễn Dương, Nguyễn Văn Mình, Công Luận, Tư Luyện, Công Đứcv.v…
Trong số những người đồng hành tâm huyết thuở ấy với sự nghiệp tạo dựng trong tương lai một nền điện ảnh Việt Nam còn có các nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Trần Thanh Mai, Trần Thanh Địch…các hoạ sĩ Nguyễn Cát Tường (bút danh hoạc sĩ Lơ Muya), Hồ Văn Lái và các nhà nhiếp ảnh Nguyễn Phổ, Vũ Năng An, Trần Văn Năng, Đỗ Hữu Thơm (Géo Thơm)v.v..
Cũng cần nhắc tới với sự trân trọng những người đồng hành từng là chủ một số rạp chiếu bóng đã dám cả gan bỏ ngoài tai lời đe doạ của các chủ hãng người Pháp kinh doanh phim nhập khẩu rằng: “rạp nào nhận chiếu phim do người bản xứ sản xuất, thì sẽ bị chấm dứt việc cho thuê phim các nước”, để ủng hộ một cách thiết thực các nhà điện ảnh tiên phong.
Thời sơ khai của điện ảnh Việt Nam cũng gắn bó chặt chẽ với khán giả điện ảnh thuở ấy. Cứ mỗi khi co phim do “người xứ mình” làm ra, đem chiếu, họ lại nô nức rủ nhau đi xem, mặc dù biết trước rằng nó thua kém phim của “xứ người” ở tận đẩu tận đâu “bên trời Tây”. Vì sự hiếu kỳ ư? Có vậy, nhưng chỉ một phần. Cái sức lôi cuốn mạnh mẽ khán giả đến với phim của “người xứ mình” chính là thấy ở đó câu chuyện, con người, cảnh vật gần gũi với mình. Ngày đó họ chưa hiểu gì lắm về một nền điện ảnh dân tộc và về ý nghĩa nó trong đời sống tinh thần của họ. Nhưng họ biết rất rõ: Họ mong muốn người nước mình cũng làm được phim như người khác, để họ có “phim ta” mà xem, mà tự hào.
Tình hình kể trên phản ánh một thực tế, nói lên một điều có ý nghĩa quan trọng, đó là: Các điện ảnh gia tiên phong không đơn độc. Và, ý tưởng về sự phấn đấu bền bỉ nhằm tạo dựng một nền điện ảnh của người Việt Nam là việc được nhiều tầng lớp xã hội, nhiều giới quan tâm, ủng hộ nhiệt thành, là điều mong đợi của nhiều người, là nhu cầu của xã hội.


+ PHẢN HỒI CỦA BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT:


Họ tên (*): Email (*):
Nội dung (*): (vui lòng viết tiếng việt có dấu)

- Hỗ trợ BBcode: [b], [i], [u], [strike], [code] [?]
- Hỗ trợ Emotion của Yahoo Chat [?]


Các tin khác

Thời kỳ sơ khai của điện ảnh Việt Nam
Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tai tiệm Cà phê lớn ( Grand café) ở đại lộ Ca-pu-xin-nơ (capucines), thủ đô Pa-ri(Paris) của...