Giới thiệu hội điện ảnh
Tọa đàm đầu tư
Tin tức
Âm nhạc và điện ảnh
Hội điện ảnh Việt Nam » Lịch sử điện ảnh Việt Nam » Sự hình thành một nền điện ảnh mới
send to a Friend Print this page
Ngày 1-9-1939 chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, mở đầu bằng sự kiện Phát xít Ðức tấn công Ba Lan. Ngày 10-5-1940 quân Ðức tiến đánh nước Pháp. Ngày 17-6 năm ấy Chính phủ Pháp xin đình chiến và ký hiệp ước đầu hàng Ðức. Thừa cơ Pháp đầu hàng Ðức, Nhật Bản đã thương lượng với chính phủ Pétain ký hiệp ước chấp nhận cho quân đội Nhật vào Việt Nam. Ngày 23-9-1940 Nhật Bản đưa quân vào chiếm toàn cõi Ðông Dương. Không lâu sau Nhật làm đảo chính Pháp nắm trọn quyền cai trị Ðông Dương, dựng lên một Chính phủ Việt Nam thân Nhật. Tháng 5 năm 1945 Ðức rồi Nhật đầu hàng Ðồng minh. Nhân cơ hội đó, ngày 19-8-1945 nhân dân Việt Nam đã nắm lấy thời cơ vùng lên dành chính quyền. Trong thời gian chiếm đóng ngắn ngủi, người Nhật không quan tâm gì đến hoạt động điện ảnh ở Việt Nam ngoài việc cho chiếu một số phim tài liệu của quân đội Nhật (ngoài ra có cho chiếu một số phim nước ngoài như Ban giao hưởng đồng nội là phim được nhiều khán giả hồi ấy ưa thích).
Ngày 2-9-1945 Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại vườn hoa Ba Ðình ở Hà Nội. Những hình ảnh về ngày lịch sử đó đã được một ống kính quay phim bí mật ghi lại (mãi đến năm 1974, nhân có đoàn làm phim của đạo diễn Phạm Kỳ Nam sang Pháp làm bộ phim tài liệu Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, những thước phim trên mới được trao lại cho những ngời làm điện ảnh Việt Nam như món quà tặng của một nhà quay phim vô danh nào đó cho đến nay vẫn dấu tên.
Những bộ phim tài liệu đầu tiên trong giai đoạn này do người Việt Nam quay (có tiếng thuyết minh , có âm nhạc phụ hoạ) là các phim Hồ Chủ Tịch tại Pháp, Hội nghị Fontainebleau, Phái đoàn Phạm Văn Ðồng tại Pháp do một nhóm sinh viên Việt Nam học tại Pháp lúc bấy giờ thực hiện nhân chuyến thăm Pháp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vào giữa năm 1946 cùng diễn biến của Hội nghị Fontainebleau của hai phái đoàn Việt Pháp để bàn về quan hệ giữa 2 nước trong bối cảnh mới.
Nhận thức tác dụng to lớn của việc tuyên truyền bằng hình ảnh , tháng 3 năm 1946 Chính phủ mới đã thành lập một bộ phận gọi là "Ðiện - Nhiếp ảnh" nằm trong Bộ Thông tin Tuyên truyền. Vốn liếng của Bộ phận điện ảnh này chỉ có một máy chiếu bóng nhãn hiệu Debri 16mm và mấy bộ phim tài liệu do kiều bào bên Pháp gửi về tặng. Tuy vậy người ta cũng tổ chức một toa xe lửa lưu động để đem những phim trên đi chiếu suốt từ Bắc chí Nam dọc theo con đường sắt xuyên Việt.
Là phe Ðồng minh thắng trận, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc quân Pháp trở lại Việt Nam với ý định dành lại quyền cai trị thuộc địa cũ của mình. Chính phủ của Chủ tịch Hồ chí Minh cố gắng thương lượng để nước Pháp công nhận nền độc lập của Viêt Nam, nhưng không mang lại kết quả. Ngày 19-12-1946 cuộc chiến tranh Pháp Việt bùng nổ. Sau một thời gian cầm cự kéo dài trong 60 ngày đêm, Chính phủ của Chủ tịch Hồ chí Minh đành bỏ lại thành phố sau lưng lên rừng lập chiến khu, bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài trong 9 năm.
Nhiều thanh niên thành thị đã tham gia vào những đội quân kháng chiến ấy. Một số xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản, có chút ít kiến thức về điện ảnh, được giao nhiệm vụ đứng ra tổ chức làm phim để cổ vũ nhân dân trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.
Năm 1948 những thước phim đầu tiên được ra đời tại Chiến khu Nam Bộ trong bưng biền Ðồng Tháp. Ðó là những phim tài liệu ghi lại những trận đánh của quân và dân Nam bộ trong những ngày đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp như: Trận Mộc Hóa, Chiến dịch Bến Tre, Chiến dịch Trà Vinh, Chiến dịch Sóc Trăng v.v.... Những người có công đặt những viên gạch đầu tiên cho nền Ðiện ảnh Việt Nam lúc đó là Ðạo diễn Mai Lộc và nhà quay phim Khương Mễ. Họ quay bằng máy Payard Bolex trên phim trực hình 16mm (phim inversible - quay xong tráng ra thành dương bản ngay, không có âm bản) bằng phơng pháp thủ công trên những chiếc xuồng đỗ ven sông để giữ độ mát cho phim. Ngoài Bắc mùa Thu năm 1950, nhà quay phim Phan Nghiêm đã ghi được trận đánh đồn Ðông Khê ở gần biên giới Việt Trung bằng máy Payard Bolex 6mm. Tiếp đó ông đã quay bộ phim Trao trả tù binh ở Thất Khê. Nhà quay phim Nguyễn Hồng Nghi, vốn là nhà nhiếp ảnh, cũng quay được phim tài liệu Dân công phục vụ tiền tuyến trên phim 16mm vào năm 1950.
Ðầu năm 1951 những người làm điện ảnh phía Nam được lệnh tập trung ra Việt Bắc để hình thành một đội ngũ quay phim thống nhất trong toàn quốc, trở thành nòng cốt của Ðiện ảnh Việt Nam mới sau này.
Cuộc Kháng chiến chống Pháp ngày càng thuận lợi hơn với việc giải phóng toàn bộ biên giới Việt -Trung vào năm 1950, mở đường cho Việt Nam giao lưu với bên ngoài. Năm 1951, Việt Nam bắt đầu thiết lập ngoại giao với các nước trong phe Xã hội Chủ nghĩa. Cuối năm đó những ngời làm điện ảnh Việt Nam bắt đầu nhận được sự viện trợ từ các nước anh em:
. Liên Xô tặng 2 máy chiếu ( =một 35mm và một 16mm)
. Chủ tịch Tiệp Khắc tặng Chủ tịch Hồ chí Minh một máy chiếu 16mm.
. Cùng một số máy chiếu lưu động cũ của Pháp được đưa lên Chiến khu từ trước, đó là toàn bộ vốn liếng ban đầu của ngành Chiếu bóng trong Kháng chiến.
Năm 1951 một đoàn điện ảnh Trung Quốc sang Việt Nam quay bộ phim tài liệu Việt Nam Kháng Chiến. Ðây là dịp để những người làm điện ảnh Việt Nam học hỏi kinh nghiệm làm phim của các đồng nghiệp Trung Quốc.
Năm 1952 bộ phim tài liệu đầu tiên quay bằng phim nhựa 35mm Chiến thắng Tây Bắc của Ðạo diễn Mai Lộc thực sự là một bước tiến mới của điện ảnh tài liệu Việt Nam. Phim có độ dài 75 phút, có tiếng thuyết minh và âm nhạc được gửi đi in tráng tại Trung quốc. Phim không còn là những đoạn tư liệu được ráp nối lại như trước đây, mà là một tác phẩm điện ảnh tài liệu hoàn chỉnh. Có thể nói người có công đầu trong buổi sơ khai của nền điện ảnh Việt Nam chiến đấu là Ðạo diễn Mai Lộc.
Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1953
Ngày 15-3-1953 tại chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 147/SL quyết định đổi phòng Ðiện - Nhiếp ảnh trong Nha Tuyên truyền và Văn nghệ của Bộ Thông tin thành một doanh nghiệp quốc gia lấy tên: Doanh nghiệp quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam. Sắc lệnh quy định cho Ðiện ảnh (và cả Nhiếp ảnh) 4 nhiệm vụ cụ thể như sau :
1- Tuyên truyền chính sách chủ trương của Chính phủ
2- Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và dân Việt Nam
3- Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh kiên quyết của nhân dân các nước bạn
4- Giáo dục văn hóa và chính trị cho nhân dân.
Ngoài nhiệm vụ thứ 3 là nhiệm vụ cụ thể cho ngành chiếu bóng, các nhiệm vụ khác rõ ràng được đề ra để định hướng cho công việc sáng tác trong điện ảnh cũng như nhiếp ảnh. Những nhiệm vụ đó có thể tóm tắt trong mấy từ sau: Tuyên truyền , Biểu dương và Giáo dục. Chúng đã chi phối toàn bộ hoạt động của điện ảnh Việt Nam trong suốt một thời gian dài. Ðó là một đặc điểm cần lưu ý khi ta nghiên cứu về các phim của Việt Nam (truyện cũng như tài liệu).
Sau khi chính thức thành lập, điện ảnh Việt Nam đã nhận được viện trợ nhiều hơn của Liên Xô và Trung Quốc trong lĩnh vực chiếu bóng (máy chiếu phim, các bản phim để chiếu). Nhiều đội chiếu bóng lưu động được thành lập phục vụ đồng bào những vùng giải phóng và các đơn vị quân đội. Nhiệm vụ hàng đầu của những người làm điện ảnh Việt Nam lúc này là phải tìm cách in được tiếng quang học trên phim nhựa. Sau một thời gian nghiên cứu, kỹ sư Phan Nghiêm đã chế tạo thành công máy ghi âm quang học mang tên "Tự cường I", tiếp đến "Tự Cường II" rồi "Tự Cường III" ngày càng hoàn chỉnh hơn, để cuối cùng có được một dây chuyền sản xuất phim nhựa 35mm từ in tráng cho đến thu thanh, dựng phim, hòa âm và ra bản đầu. Phim tài liệu Giữ làng giữ nước ( 16mm, dài 35 phút) ra đời sau đó của Ðạo diễn Mai Lộc, quay phim Quang Huy với cảnh đoàn tầu chở xăng của địch bị phục kích trên đường 5 (từ Hải phòng về Hà Nội) là một hình ảnh đầy ấn tượng hiếm có trong kho tàng phim tư liệu Việt Nam.
Ðầu năm 1954 một đoàn điện ảnh Liên Xô do Ðạo diễn Roman Karmen dẫn đầu sang Việt Nam làm phim tài liệu mầu Việt Nam trên đường thắng lợi. Các đạo diễn Phạm Văn Khoa, Mai Lộc cùng nhà văn Nguyễn Ðình Thi đã được phía Việt Nam cử ra để hợp tác với đạo diễn Karmen thực hiện bộ phim này. Lại thêm một dịp để những người làm điện ảnh Việt Nam học hỏi được nhiều điều bổ ích về nghệ thuật làm phim tài liệu ở người đạo diễn Xô Viết giầu kinh nghiệm này. Phong cách làm phim của Karmen đã ảnh hưởng nhiều đến những người làm phim tài liệu của Việt Nam sau này.
Trong thời gian này quân dân Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị cho trận đánh Ðiện Biên Phủ. Một đoàn đông đảo những nhà làm phim gồm Nguyễn Tiến Lợi, Nguyễn Hồng Nghi, Nguyễn Phụ Cấn, Nguyễn Quý Lục, Nguyễn Ðăng Bẩy, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Như ái, Nguyễn Thụ... được cử tham gia chến dịch này. Bộ phim Chiến thắng Ðiện Biên Phủ có độ dài 30 phút, quay trên phim 16mm, đã ra mắt khán giả ba tháng sau chiến thắng lịch sử tại thung lũng Ðiện Biên Phủ ngày 8-5-1954, chấm dứt cuộc chiến tranh Pháp- Việt kéo dài trong 8 năm (1946-1954). Phim ghi lại toàn bộ quá trình chuẩn bị chiến dịch từ Bộ chỉ huy tối cao cho đến hàng vạn dân công tiền tuyến vận chuyển lương thực cho bộ đội bằng những chiếc xe đạp thô sơ. Những cảnh trực tiếp chiến đấu trong phim không nhiều, đa số được quay từ xa. Theo một số chiến sỹ tham gia chiến dịch kể lại, vài ngày sau khi ngừng tiếng súng họ được lệnh diễn lại một số cảnh để quay phim (như cảnh các chiến sỹ Việt Nam phất cờ trên nóc hầm Tướng De Castrie, bắt sống Tướng De Castrie cùng toàn bộ Bộ chỉ huy của ông).
Ðạo diễn Ronam Karmen cùng nhà quay phim của mình là Esurin không có mặt trong chiến dịch này vì người Việt Nam muốn đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các nhà làm phim Liên Xô. Những ngày sau khi chiến dịch kết thúc phía Việt Nam đã tổ chức để họ quay cảnh đoàn tù binh Pháp bị giải đi trên đường. Ðoàn lính Pháp rất đông, lũ lượt kéo qua ống kính của Karmen tưởng chừng như vô tận. Sau đó ông được tiếp xúc với một số tù binh Pháp để phỏng vấn, quay phim. Lần đó ông đã gặp viên chuẩn uý quay phim của quân đội Pháp là Piere Shoendorfer sau này trở thành đạo diễn điện ảnh nổi tiếng ở Pháp (năm 1994 Piere Shoendorfer đã quay lại Việt Nam thực hiện bộ phim truyện Ðiện Biên Phủ).
Cần nói thêm rằng, mười năm sau Xưởng phim của Quân đội nhân dân Việt Nam đã sử dụng những hình ảnh của phim Chiến thắng Ðiện Biên Phủ để làm một bộ phim khác có tên Chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ có độ dài gấp đôi (60 phút) với nhiều hình ảnh được dựng lại để quay thêm trên phim nhựa 35mm. Tính chân thực của bộ phim sau này đã mất đi rất nhiều so với bộ phim trước.
Sau thắng lợi Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve năm 1954 về Ðông Dương được ký kết. Nước Việt Nam bị chia làm hai miền với vĩ tuyến 17 là giới tuyến. Tại Miền Bắc ngày 10 tháng 10 năm 1954 Chính phủ kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã trở về tiếp quản Hà Nội.
Năm 1956, điện ảnh Việt Nam được chia thành hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam. Cục Ðiện ảnh nằm trong Bộ Văn hóa được thành lập để chỉ đạo nghành Ðiện ảnh. Năm 1959 Trường Ðiện ảnh Việt Nam, Nhà máy cơ khí điện ảnh, Xưởng phim hoạt họa và búp bê Việt Nam, Xưởng phim Thời sự tài liệu Trung ương lần lượt ra đời.
Ðiện ảnh Việt Nam bắt đầu nhận được sự giúp đỡ của điện ảnh các nước Xã hội chủ nghĩa anh em về vật chất, kỹ thuật. Trung quốc giúp máy in tráng phim, Cộng hòa dân chủ Ðức giúp những thiết bị thu thanh, Liên Xô giúp máy quay, hệ thống chiếu sáng v.v... Ðã hình thành một nền kỹ thuật điện ảnh có đủ khả năng in tráng và làm hậu kỳ, ra bản đầu, nhân bản các phim tại Hà Nội. Các cán bộ có thành tích cống hiến trong nghành, có lý lịch tốt, được cử sang học tại các trường điện ảnh ở Liên Xô, Trung Quốc và Ðức. Ðội ngũ những người làm phim bắt đầu hình thành với đầy đủ các chuyên ngành của nghệ thuật tổng hợp này.
PHIM TRUYỆN VIỆT NAM (giai đoạn 1959-1975)
Năm 1959 phim Chung một giòng sông, bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh Việt Nam thuộc chế độ mới ra đời. Tác giả kịch bản là Xuân Tùng, Ðạo diễn là Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân (tức Phạm Kỳ Nam), quay phim Nguyễn Ðắc. Trong đoàn phim còn có chuyên gia về quay phim và hóa trang của Trung Quốc tham gia. Phim nói về mối tình trắc trở của đôi trai gái, khi người con trai ở bờ Bắc và cô gái ở bờ Nam của con sông Hiền Lương nằm trên Vỹ tuyến 17 chia cắt đất nước. Tính biểu tượng và tính minh họa những nội dung chính trị bộc lộ rất rõ trong bộ phim này. Tháng 7 năm 1959 phim Chung một giòng sông được gửi tham dự Liên hoan phim quốc tế Mát-cơ-va (Liên Xô) nhưng không gây được tiếng vang và cũng không được giải gì. Cũng tại Liên hoan phim đó phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải của Ðạo diễn Bùi Ðình Hạc nhận được Giải Vàng trong thể loại phim tài liệu.
Năm 1961 Truờng Ðiện Ảnh Việt Nam đầu tiên được thành lập. Năm 1962, khóa học đầu tiên của Trường gồm các khoa Ðạo diễn và Diễn viên kết thúc (khóa học này do đạo diễn Liên Xô tên là Ajdar Ibraghimov, người Azerbaigian giảng dạy). Các học sinh của trường đã làm 3 phim tốt nghiệp gồm 2 phim truyện ngắn Chim vành khuyên (Ðạo diễn Nguyễn Văn Thông, Trần Vũ ), Hai người lính (Ðạo diễn Vũ Sơn) và một phim truyện dài Một ngày đầu thu (Ðạo Diễn Huy Vân, Hải Ninh). Hai bộ phim ngắn, đặc biệt phim Chim vành khuyên thực sự là một bước tiến mới của điện ảnh Việt Nam. Tính chất minh hoạ, tuyên truyền chính trị đã nhường chỗ cho những cảm xúc chân thật và sáng tạo nghệ thuật, mặc dầu nội dung của cả hai phim đều đề cập đến đề tài chiến tranh. Trái lại bộ phim truyện dài Một ngày đầu thu là một điển hình của thứ nghệ thuật công thức, giáo điều, lên gân. Năm 1962 phim Chim vành khuyên được Giải Ðặc biệt cho thể loại phim ngắn và phim Hai người lính đoạt Giải Vàng trong Tiểu hội Á - Phi tại Liên hoan phim Carlovy Vary (Tiệp khắc). Một làn gió mới được thổi lên từ sự xuất hiện của 2 bộ phim truyện ngắn nói trên, chuẩn bị cho sự ra đời của một kiệt tác trong điện ảnh Việt Nam: phim Chị Tư Hậu (1963).
Phim Chị Tư Hậu đánh dấu một bước tiến vượt bậc của điện ảnh phim truyện Việt Nam. Phim được xây dựng theo truyện ngắn Câu chuyện kể trong bệnh viện của nhà văn Bùi Ðức Ái, đạo diễn là Phạm Kỳ một đạo diễn từng tốt nghiệp điện ảnh tại Pháp. Phim nhận được Giải Bạc tại Liên hoan phim quốc tế Mat-scơ-va năm 1963. Ðây là giải thưởng quốc tế đầu tiên của Ðiện ảnh Việt Nam trong lĩnh vực phim truyện. Nữ diễn viên Trà Giang bắt đầu được công chúng Việt Nam mến mộ kể từ bộ phim này, trở thành một biểu tượng cho điện ảnh Việt Nam suốt trong nhiều năm về sau. Có thể coi phim Chị Tư Hậu cùng với Chim vành khuyên là những bộ phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam.
Từ năm 1959, là năm xuất hiện bộ phim truyện đầu tiên cho đến năm 1975, khi Việt Nam thống nhất, kết thúc chiến tranh chống, điện ảnh Việt Nam đã sản xuất được 66 phim truyện. Trừ các phim Chị Tư Hậu, Chim vành khuyên và ở mức độ thấp hơn là Hai người lính, Vợ chồng A Phủ, tất cả các phim khác đều là sản phẩm của một nền nghệ thuật phục vụ những nhiệm vụ chính trị trước mắt. Khi những nhiệm vụ chính trị thay đổi thì những bộ phim trên cũng lập tức không còn được ai nhắc đến nữa. Các phim Việt Nam thời kỳ này chủ yếu xoay quanh các đề tài sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, chiến đấu. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của những phim như Chị Tư Hậu, Chim vành khuyên, Hai người lính, Vợ chồng A Phủ là những ngoại lệ mà nguyên nhân của nó chúng tôi sẽ đề cập đến sau này. Xin đi vào phân tích từng phim:
- Chị Tư Hậu: Chị Tư Hậu làm nghề bà đỡ, có chồng hoạt động cho Việt Minh (trong kháng chiến chống Pháp). Viên sỹ quan đồn trưởng quân đội Sài gòn yêu chị, và trong một trận càn hắn đã hiếp chị. Tư Hậu đã toan tự tử, nhưng tiếng khóc của đứa con nhỏ làm chị thức tỉnh nhận ra nghĩa vụ làm mẹ của mình. Tin trên đến tai người chồng đi theo Việt minh. Anh trở về quyết trả thù tên sỹ quan đã làm nhục vợ mình, tha thứ cho vợ. Anh lại lên đường ra mặt trận. Chị ở lại tham gia du kích, vận động lính đối phương quay súng trở về với Cách mạng. Anh hy sinh ngoài mặt trận. Tư Hậu cùng với các chiến sỹ du kích đã san phẳng đồn giặc trả thù cho chồng. Câu chuyện trên rõ ràng không có gì đặc sắc. Nó cũng như bao chuyện trả thù ân oán trong chiến tranh. Tuy vậy nó có những nét mới chưa từng có trong phim Việt Nam: đó là nhân vật chính, không phải là một nữ chiến sỹ cách mạng kiên cường, mà là một người phụ nữ bình thường, lại bị hiếp, chồng chết, có nỗi đau riêng của mình. Chị tham gia du kích một cách tự nhiên xuất phát từ những tình cảm rất tự nhiên của con người. Chị không phải là một mẫu anh hùng mà ta được nhìn thấy trong rất nhiều phim Việt Nam trước và sau đó. Về thể hiện nghệ thuật bộ phim có nhiều tìm tòi (cảnh vợ chồng Tư Hậu chia tay nhau bên giòng sông có chiếc cầu gẫy, cảnh Tư Hậu lao ra biển định tự tử sau khi bị hiếp v.v...). Ngôn ngữ hình ảnh được sử dụng để kể lại câu chuyện phim (chứ không dùng lời thoại như các phim Việt Nam khác). Ngoài diễn xuất chân thực, đầy ấn tượng của nữ diễn viên Trà Giang cần phải nói đến những hình ảnh đầy sáng tạo cùng những chuyển động máy quay hết sức linh hoạt của nhà quay phim Khánh Dư. Ðây là phim đầu tay của Ðạo diễn Phạm Kỳ Nam. Anh từng học tại trường IDHEC (Trường điện ảnh) ở Paris từ 1950 đến 1955. Sau khi tốt nghiệp xong , anh trở về nước tham gia điện ảnh Việt Nam từ những ngày đầu. Anh đã cùng Ðạo diễn Nguyễn Hồng Nghi xây dựng bộ phim truyện đầu tiên (phim Chung một giòng sông) đứng tên là Phạm Hiếu Dân. Có thể nói Phạm Kỳ Nam là đạo diễn hàng đầu của Ðiện ảnh phim truyện Việt Nam thời kỳ đầu.
- Phim Chim vành khuyên với độ dài 45 phút, được xây dựng theo truyện ngắn: Hai cha con ông lái đò của Nguyễn Văn Thông . Ðây là bài thi tốt nghiệp của hai học sinh lớp đạo diễn khóa đầu tiên của Trường diện ảnh Việt Nam là Nguyễn Văn Thông và Trần Vũ. Nội dung phim kể về hai bố con ông lái đò, chuyên chở cán bộ qua sông trong kháng chiến chống Pháp. Một hôm, một toán thám báo địch phục kích bên sông để bắt cán bộ. Em bé gái con ông lái đò đã dũng cảm ra hiệu cho đoàn cán bộ chờ ở bên kia sông biết để trốn. Em bé đã hy sinh. Trước khi chết em bé thả con chim vành khuyên từ trong túi áo của mình. Chi tiết đó đã làm nhiều ngời xem xúc động. Hai đạo diễn Nguyên Văn Thông và Trần Vũ, trước khi vào học trường điện ảnh đã từng ở trong quân đội , từng viết văn, làm báo. Cũng như họ, tất cả các học viên khóa đạo diễn đầu tiên của Trường điện ảnh Việt Nam đều đã từng là những cán bộ văn nghệ trong kháng chiến, nhiều người có trình độ văn hóa tú tài dưới thời Pháp. Họ được cử đi học điện ảnh theo sự phân công của tổ chức. Có thể nói đó là những chiến sỹ được phân công làm điện ảnh. Ðối với họ điện ảnh là một nhiệm vụ được giao và họ phải cố gắng hoàn thành tốt. Phim Chim vành khuyên đã dành được Giải Ðặc biệt cho thể loại phim ngắn tại LHP Carlovy Vary (Tiệp khắc) năm 1962.
- Phim Hai người lính kể chuyện về một anh lính Việt Nam được lệnh giải một tên tù binh Pháp về hậu phương. Giữa đường tên tù binh định chạy trốn nhưng không thoát. Trên đường đi gặp máy bay Pháp, tên tù binh vẫy khăn trắng ra hiệu cho máy bay đến cứu, nhưng máy bay đã trút bom xuống làm cho một em bé Việt Nam bị chết. Dân làng căm thù muốn giết tên lính Pháp nhưng người chiến sỹ Việt Nam đã can họ. Anh nghĩ: Giết một tên tù binh thì dễ, cải tạo hắn trở thành một con người mới là khó... Ðó cũng là triết lý của bộ phim. Tại Liên hoan phim Quốc tế Carlovy Vary (Tiệp khắc) năm 1962, bộ phim đã nhận được giải Nhất của Tiểu hội Á - Phi trong khuôn khổ LHP. Ðạo diễn phim là Vũ Sơn, tốt nghiệp khóa đạo diễn đầu tiên của Trường Ðiện Ảnh Việt Nam. Ðây là bài thi tốt nghiệp của anh.
- Vợ chồng A Phủ (sản xuất năm 1961) là bộ phim truyện thứ hai của đạo diễn Mai Lộc, người đã đặt nền móng cho nền điện ảnh Việt Nam trong Kháng chiến chống Pháp. Phim làm theo tiểu thuyết của nhà văn Tô Hoài, một nhà văn được nhiều người Việt Nam yêu mến. Phim kể về một đôi thanh niên nam nữ người Mèo (một dân tộc ít ngời ỏ Việt Nam, chuyên sống trên núi cao). Anh tên là A Phủ, chị tên là Mỵ. Tên chúa đất gian ác đã bắt Mỵ về làm vợ lẽ cho con trai hắn, bắt A Phủ về làm đầy tớ suốt đời cho gia đình hắn để trả nợ. A Phủ và Mỵ yêu nhau. A Phủ cùng Mỵ trốn đi theo Việt minh để đấu tranh tự giải phóng mình, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngoài những khung cảnh thiên nhiên và những phong tục tập quán của người Mèo, bộ phim hấp dẫn người xem bởi những hình ảnh trau chuốt của nhà quay phim Khương Mễ. Phim được đánh giá là một thành công của điện ảnh Việt Nam.
Sự thành công của 4 phim trên có thể cắt nghĩa như sau: Mặc dầu nền điện ảnh Việt Nam ngay từ đầu đã được định hướng như một nền nghệ thuật Tuyên truyền, Biểu dương, và Giáo dục, nhưng thực tế chiến đấu của nhân dân Việt Nam đã rung động sâu xa những người nghệ sỹ điện ảnh. Từ những xúc cảm chân thành đó họ đã làm ra những bộ phim lay dộng được trái tim của người xem, vượt ra ngoài khuôn khổ tuyên truyền chính trị khô khan. Trái lại những phim về đề tài về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc lại không mấy thành công. Rất nhiều phim về đề tài đó được làm như một nghĩa vụ, lập tức rơi vào quên lãng không để lại dấu vết gì (Chuyện vợ chồng anh Lực, Hoa thiên lý, Ðộ dốc, Người về đồng cói, Bình minh trên rẻo cao, Ga, Phía Bắc thủ đô, Quê nhà v.v...).
Năm 1972 xuất hiện bộ phim Sau cơn bão của Ðạo diễn Phạm Văn Khoa. Trong phim này ông đã dùng yếu tố hài để phê phán một cách nhẹ nhàng những thói hư tật xấu ở nông thôn. Có thể coi đây là bộ phim hài đầu tiên của điện ảnh VN. Chất hài đó còn được tiếp tục trong phim Kén rể của Phạm Văn Khoa làm cùng với Nông Ích Ðạt.
Nói về điện ảnh thời kỳ này kể cũng nên nhắc đến bộ phim hai tập Vỹ tuyến 17 - ngày và đêm của nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ và đạo diễn Nguyễn Hải Ninh. Có thể nói đây là bộ phim tiêu biểu cho giòng phim tuyên truyền, phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị trước mắt. Các sự kiện của phim diễn ra trong khoảng thời gian dài từ những ngày chấm dứt chiến tranh Pháp-Việt (1954) cho đến năm 1968, khi người Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nội dung câu chuyện cũng không khác gì nhiều so với bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh Việt Nam Chung một giòng sông… Cũng là sự chia cắt tình duyên lứa đôi do đất nước bị chia cắt. Chị Dịu ( do diễn viên Trà Giang đóng) có chồng tập kết ra Bắc (sau Hiệp định Geneves năm 1954). Viên sỹ quan Cộng Hòa Trần Sùng yêu chị, hắn quyết tâm tiêu diệt cộng sản ở làng quê của chị. Sau nhiều lần ép chị không được hắn đã tra tấn chị rất dã man, nhưng chị vẫn kiên cường bất khuất. Trong một trận càn của lính Cộng Hòa về làng, tên Trần Sùng đã bị chị Dịu cùng du kích giết chết. Tại Liên hoan phim quốc tế Mát-scơ-va năm 1973 nữ diễn viên Trà Giang đã nhận được giải nữ diễn viên xuất sắc cho vai Dịu trong phim này. Ðây là giải thưởng quốc tế đầu tiên cho một nữ diễn viên Việt Nam. Khi mới ra đời bộ phim được lãnh đạo và báo chí khen ngợi. Nhưng cùng với thời gian bộ phim đã không còn đứng được trong lòng công chúng (ngoại trừ hình ảnh chị Dịu do Trà Giang đóng), bởi tính chất công thức, minh họa một chiều của bộ phim.
Một bộ phim nữa cũng thuộc giòng phim này là phim Nổi gió (của hai đạo diễn Huy Thành và Lê Bá Huyến) chuyển thể theo vở kịch cùng tên của nhà soạn kịch Ðào Hồng Cẩm. Câu chuyên kể về mối xung đột giữa một người chị theo bên Cách mạng và một người em là sỹ quan lính Cộng hòa ở phe đối địch. Tình cảm chị em và trách nhiệm của một sỹ quan giằng xé viên sỹ quan trẻ. Những tình cảm đó đã không lọt qua mắt viên cố vấn Mỹ giầu kinh nghiệm. Cuối cùng thì người chị đã cảm hóa được đứa em . Phim được coi là một thành công của điện ảnh Việt Nam bởi diễn xuất sinh động của Diễn viên Thế Anh đóng vai Trung úy Phương và nữ diễn viên Thụy Vân đóng vai người chị.
Phim truyện Việt Nam thời kỳ 1959 đến 1975 chủ yếu đề cập đến đề tài chiến tranh của một đất nước chìm đắm trong khói lửa chiến tranh.
Ngày 2-9-1945 Chính phủ Cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, với bản Tuyên ngôn Ðộc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại vườn hoa Ba Ðình ở Hà Nội. Những hình ảnh về ngày lịch sử đó đã được một ống kính quay phim bí mật ghi lại (mãi đến năm 1974, nhân có đoàn làm phim của đạo diễn Phạm Kỳ Nam sang Pháp làm bộ phim tài liệu Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, những thước phim trên mới được trao lại cho những ngời làm điện ảnh Việt Nam như món quà tặng của một nhà quay phim vô danh nào đó cho đến nay vẫn dấu tên.
Những bộ phim tài liệu đầu tiên trong giai đoạn này do người Việt Nam quay (có tiếng thuyết minh , có âm nhạc phụ hoạ) là các phim Hồ Chủ Tịch tại Pháp, Hội nghị Fontainebleau, Phái đoàn Phạm Văn Ðồng tại Pháp do một nhóm sinh viên Việt Nam học tại Pháp lúc bấy giờ thực hiện nhân chuyến thăm Pháp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vào giữa năm 1946 cùng diễn biến của Hội nghị Fontainebleau của hai phái đoàn Việt Pháp để bàn về quan hệ giữa 2 nước trong bối cảnh mới.
Nhận thức tác dụng to lớn của việc tuyên truyền bằng hình ảnh , tháng 3 năm 1946 Chính phủ mới đã thành lập một bộ phận gọi là "Ðiện - Nhiếp ảnh" nằm trong Bộ Thông tin Tuyên truyền. Vốn liếng của Bộ phận điện ảnh này chỉ có một máy chiếu bóng nhãn hiệu Debri 16mm và mấy bộ phim tài liệu do kiều bào bên Pháp gửi về tặng. Tuy vậy người ta cũng tổ chức một toa xe lửa lưu động để đem những phim trên đi chiếu suốt từ Bắc chí Nam dọc theo con đường sắt xuyên Việt.
Là phe Ðồng minh thắng trận, sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc quân Pháp trở lại Việt Nam với ý định dành lại quyền cai trị thuộc địa cũ của mình. Chính phủ của Chủ tịch Hồ chí Minh cố gắng thương lượng để nước Pháp công nhận nền độc lập của Viêt Nam, nhưng không mang lại kết quả. Ngày 19-12-1946 cuộc chiến tranh Pháp Việt bùng nổ. Sau một thời gian cầm cự kéo dài trong 60 ngày đêm, Chính phủ của Chủ tịch Hồ chí Minh đành bỏ lại thành phố sau lưng lên rừng lập chiến khu, bắt đầu cuộc kháng chiến chống Pháp kéo dài trong 9 năm.
Nhiều thanh niên thành thị đã tham gia vào những đội quân kháng chiến ấy. Một số xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản, có chút ít kiến thức về điện ảnh, được giao nhiệm vụ đứng ra tổ chức làm phim để cổ vũ nhân dân trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc.
Năm 1948 những thước phim đầu tiên được ra đời tại Chiến khu Nam Bộ trong bưng biền Ðồng Tháp. Ðó là những phim tài liệu ghi lại những trận đánh của quân và dân Nam bộ trong những ngày đầu của cuộc Kháng chiến chống Pháp như: Trận Mộc Hóa, Chiến dịch Bến Tre, Chiến dịch Trà Vinh, Chiến dịch Sóc Trăng v.v.... Những người có công đặt những viên gạch đầu tiên cho nền Ðiện ảnh Việt Nam lúc đó là Ðạo diễn Mai Lộc và nhà quay phim Khương Mễ. Họ quay bằng máy Payard Bolex trên phim trực hình 16mm (phim inversible - quay xong tráng ra thành dương bản ngay, không có âm bản) bằng phơng pháp thủ công trên những chiếc xuồng đỗ ven sông để giữ độ mát cho phim. Ngoài Bắc mùa Thu năm 1950, nhà quay phim Phan Nghiêm đã ghi được trận đánh đồn Ðông Khê ở gần biên giới Việt Trung bằng máy Payard Bolex 6mm. Tiếp đó ông đã quay bộ phim Trao trả tù binh ở Thất Khê. Nhà quay phim Nguyễn Hồng Nghi, vốn là nhà nhiếp ảnh, cũng quay được phim tài liệu Dân công phục vụ tiền tuyến trên phim 16mm vào năm 1950.
Ðầu năm 1951 những người làm điện ảnh phía Nam được lệnh tập trung ra Việt Bắc để hình thành một đội ngũ quay phim thống nhất trong toàn quốc, trở thành nòng cốt của Ðiện ảnh Việt Nam mới sau này.
Cuộc Kháng chiến chống Pháp ngày càng thuận lợi hơn với việc giải phóng toàn bộ biên giới Việt -Trung vào năm 1950, mở đường cho Việt Nam giao lưu với bên ngoài. Năm 1951, Việt Nam bắt đầu thiết lập ngoại giao với các nước trong phe Xã hội Chủ nghĩa. Cuối năm đó những ngời làm điện ảnh Việt Nam bắt đầu nhận được sự viện trợ từ các nước anh em:
. Liên Xô tặng 2 máy chiếu ( =một 35mm và một 16mm)
. Chủ tịch Tiệp Khắc tặng Chủ tịch Hồ chí Minh một máy chiếu 16mm.
. Cùng một số máy chiếu lưu động cũ của Pháp được đưa lên Chiến khu từ trước, đó là toàn bộ vốn liếng ban đầu của ngành Chiếu bóng trong Kháng chiến.
Năm 1951 một đoàn điện ảnh Trung Quốc sang Việt Nam quay bộ phim tài liệu Việt Nam Kháng Chiến. Ðây là dịp để những người làm điện ảnh Việt Nam học hỏi kinh nghiệm làm phim của các đồng nghiệp Trung Quốc.
Năm 1952 bộ phim tài liệu đầu tiên quay bằng phim nhựa 35mm Chiến thắng Tây Bắc của Ðạo diễn Mai Lộc thực sự là một bước tiến mới của điện ảnh tài liệu Việt Nam. Phim có độ dài 75 phút, có tiếng thuyết minh và âm nhạc được gửi đi in tráng tại Trung quốc. Phim không còn là những đoạn tư liệu được ráp nối lại như trước đây, mà là một tác phẩm điện ảnh tài liệu hoàn chỉnh. Có thể nói người có công đầu trong buổi sơ khai của nền điện ảnh Việt Nam chiến đấu là Ðạo diễn Mai Lộc.
Sinh ngày 15 tháng 3 năm 1953
Ngày 15-3-1953 tại chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 147/SL quyết định đổi phòng Ðiện - Nhiếp ảnh trong Nha Tuyên truyền và Văn nghệ của Bộ Thông tin thành một doanh nghiệp quốc gia lấy tên: Doanh nghiệp quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam. Sắc lệnh quy định cho Ðiện ảnh (và cả Nhiếp ảnh) 4 nhiệm vụ cụ thể như sau :
1- Tuyên truyền chính sách chủ trương của Chính phủ
2- Nêu cao những thành tích, những gương đấu tranh anh dũng của quân và dân Việt Nam
3- Giới thiệu đời sống và thành tích đấu tranh kiên quyết của nhân dân các nước bạn
4- Giáo dục văn hóa và chính trị cho nhân dân.
Ngoài nhiệm vụ thứ 3 là nhiệm vụ cụ thể cho ngành chiếu bóng, các nhiệm vụ khác rõ ràng được đề ra để định hướng cho công việc sáng tác trong điện ảnh cũng như nhiếp ảnh. Những nhiệm vụ đó có thể tóm tắt trong mấy từ sau: Tuyên truyền , Biểu dương và Giáo dục. Chúng đã chi phối toàn bộ hoạt động của điện ảnh Việt Nam trong suốt một thời gian dài. Ðó là một đặc điểm cần lưu ý khi ta nghiên cứu về các phim của Việt Nam (truyện cũng như tài liệu).
Sau khi chính thức thành lập, điện ảnh Việt Nam đã nhận được viện trợ nhiều hơn của Liên Xô và Trung Quốc trong lĩnh vực chiếu bóng (máy chiếu phim, các bản phim để chiếu). Nhiều đội chiếu bóng lưu động được thành lập phục vụ đồng bào những vùng giải phóng và các đơn vị quân đội. Nhiệm vụ hàng đầu của những người làm điện ảnh Việt Nam lúc này là phải tìm cách in được tiếng quang học trên phim nhựa. Sau một thời gian nghiên cứu, kỹ sư Phan Nghiêm đã chế tạo thành công máy ghi âm quang học mang tên "Tự cường I", tiếp đến "Tự Cường II" rồi "Tự Cường III" ngày càng hoàn chỉnh hơn, để cuối cùng có được một dây chuyền sản xuất phim nhựa 35mm từ in tráng cho đến thu thanh, dựng phim, hòa âm và ra bản đầu. Phim tài liệu Giữ làng giữ nước ( 16mm, dài 35 phút) ra đời sau đó của Ðạo diễn Mai Lộc, quay phim Quang Huy với cảnh đoàn tầu chở xăng của địch bị phục kích trên đường 5 (từ Hải phòng về Hà Nội) là một hình ảnh đầy ấn tượng hiếm có trong kho tàng phim tư liệu Việt Nam.
Ðầu năm 1954 một đoàn điện ảnh Liên Xô do Ðạo diễn Roman Karmen dẫn đầu sang Việt Nam làm phim tài liệu mầu Việt Nam trên đường thắng lợi. Các đạo diễn Phạm Văn Khoa, Mai Lộc cùng nhà văn Nguyễn Ðình Thi đã được phía Việt Nam cử ra để hợp tác với đạo diễn Karmen thực hiện bộ phim này. Lại thêm một dịp để những người làm điện ảnh Việt Nam học hỏi được nhiều điều bổ ích về nghệ thuật làm phim tài liệu ở người đạo diễn Xô Viết giầu kinh nghiệm này. Phong cách làm phim của Karmen đã ảnh hưởng nhiều đến những người làm phim tài liệu của Việt Nam sau này.
Trong thời gian này quân dân Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị cho trận đánh Ðiện Biên Phủ. Một đoàn đông đảo những nhà làm phim gồm Nguyễn Tiến Lợi, Nguyễn Hồng Nghi, Nguyễn Phụ Cấn, Nguyễn Quý Lục, Nguyễn Ðăng Bẩy, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Nguyễn Như ái, Nguyễn Thụ... được cử tham gia chến dịch này. Bộ phim Chiến thắng Ðiện Biên Phủ có độ dài 30 phút, quay trên phim 16mm, đã ra mắt khán giả ba tháng sau chiến thắng lịch sử tại thung lũng Ðiện Biên Phủ ngày 8-5-1954, chấm dứt cuộc chiến tranh Pháp- Việt kéo dài trong 8 năm (1946-1954). Phim ghi lại toàn bộ quá trình chuẩn bị chiến dịch từ Bộ chỉ huy tối cao cho đến hàng vạn dân công tiền tuyến vận chuyển lương thực cho bộ đội bằng những chiếc xe đạp thô sơ. Những cảnh trực tiếp chiến đấu trong phim không nhiều, đa số được quay từ xa. Theo một số chiến sỹ tham gia chiến dịch kể lại, vài ngày sau khi ngừng tiếng súng họ được lệnh diễn lại một số cảnh để quay phim (như cảnh các chiến sỹ Việt Nam phất cờ trên nóc hầm Tướng De Castrie, bắt sống Tướng De Castrie cùng toàn bộ Bộ chỉ huy của ông).
Ðạo diễn Ronam Karmen cùng nhà quay phim của mình là Esurin không có mặt trong chiến dịch này vì người Việt Nam muốn đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các nhà làm phim Liên Xô. Những ngày sau khi chiến dịch kết thúc phía Việt Nam đã tổ chức để họ quay cảnh đoàn tù binh Pháp bị giải đi trên đường. Ðoàn lính Pháp rất đông, lũ lượt kéo qua ống kính của Karmen tưởng chừng như vô tận. Sau đó ông được tiếp xúc với một số tù binh Pháp để phỏng vấn, quay phim. Lần đó ông đã gặp viên chuẩn uý quay phim của quân đội Pháp là Piere Shoendorfer sau này trở thành đạo diễn điện ảnh nổi tiếng ở Pháp (năm 1994 Piere Shoendorfer đã quay lại Việt Nam thực hiện bộ phim truyện Ðiện Biên Phủ).
Cần nói thêm rằng, mười năm sau Xưởng phim của Quân đội nhân dân Việt Nam đã sử dụng những hình ảnh của phim Chiến thắng Ðiện Biên Phủ để làm một bộ phim khác có tên Chiến thắng lịch sử Ðiện Biên Phủ có độ dài gấp đôi (60 phút) với nhiều hình ảnh được dựng lại để quay thêm trên phim nhựa 35mm. Tính chân thực của bộ phim sau này đã mất đi rất nhiều so với bộ phim trước.
Sau thắng lợi Ðiện Biên Phủ, Hiệp định Geneve năm 1954 về Ðông Dương được ký kết. Nước Việt Nam bị chia làm hai miền với vĩ tuyến 17 là giới tuyến. Tại Miền Bắc ngày 10 tháng 10 năm 1954 Chính phủ kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã trở về tiếp quản Hà Nội.
Năm 1956, điện ảnh Việt Nam được chia thành hai bộ phận: Xưởng phim Việt Nam và Quốc doanh phát hành phim và chiếu bóng Việt Nam. Cục Ðiện ảnh nằm trong Bộ Văn hóa được thành lập để chỉ đạo nghành Ðiện ảnh. Năm 1959 Trường Ðiện ảnh Việt Nam, Nhà máy cơ khí điện ảnh, Xưởng phim hoạt họa và búp bê Việt Nam, Xưởng phim Thời sự tài liệu Trung ương lần lượt ra đời.
Ðiện ảnh Việt Nam bắt đầu nhận được sự giúp đỡ của điện ảnh các nước Xã hội chủ nghĩa anh em về vật chất, kỹ thuật. Trung quốc giúp máy in tráng phim, Cộng hòa dân chủ Ðức giúp những thiết bị thu thanh, Liên Xô giúp máy quay, hệ thống chiếu sáng v.v... Ðã hình thành một nền kỹ thuật điện ảnh có đủ khả năng in tráng và làm hậu kỳ, ra bản đầu, nhân bản các phim tại Hà Nội. Các cán bộ có thành tích cống hiến trong nghành, có lý lịch tốt, được cử sang học tại các trường điện ảnh ở Liên Xô, Trung Quốc và Ðức. Ðội ngũ những người làm phim bắt đầu hình thành với đầy đủ các chuyên ngành của nghệ thuật tổng hợp này.
PHIM TRUYỆN VIỆT NAM (giai đoạn 1959-1975)
Năm 1959 phim Chung một giòng sông, bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh Việt Nam thuộc chế độ mới ra đời. Tác giả kịch bản là Xuân Tùng, Ðạo diễn là Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Hiếu Dân (tức Phạm Kỳ Nam), quay phim Nguyễn Ðắc. Trong đoàn phim còn có chuyên gia về quay phim và hóa trang của Trung Quốc tham gia. Phim nói về mối tình trắc trở của đôi trai gái, khi người con trai ở bờ Bắc và cô gái ở bờ Nam của con sông Hiền Lương nằm trên Vỹ tuyến 17 chia cắt đất nước. Tính biểu tượng và tính minh họa những nội dung chính trị bộc lộ rất rõ trong bộ phim này. Tháng 7 năm 1959 phim Chung một giòng sông được gửi tham dự Liên hoan phim quốc tế Mát-cơ-va (Liên Xô) nhưng không gây được tiếng vang và cũng không được giải gì. Cũng tại Liên hoan phim đó phim tài liệu Nước về Bắc Hưng Hải của Ðạo diễn Bùi Ðình Hạc nhận được Giải Vàng trong thể loại phim tài liệu.
Năm 1961 Truờng Ðiện Ảnh Việt Nam đầu tiên được thành lập. Năm 1962, khóa học đầu tiên của Trường gồm các khoa Ðạo diễn và Diễn viên kết thúc (khóa học này do đạo diễn Liên Xô tên là Ajdar Ibraghimov, người Azerbaigian giảng dạy). Các học sinh của trường đã làm 3 phim tốt nghiệp gồm 2 phim truyện ngắn Chim vành khuyên (Ðạo diễn Nguyễn Văn Thông, Trần Vũ ), Hai người lính (Ðạo diễn Vũ Sơn) và một phim truyện dài Một ngày đầu thu (Ðạo Diễn Huy Vân, Hải Ninh). Hai bộ phim ngắn, đặc biệt phim Chim vành khuyên thực sự là một bước tiến mới của điện ảnh Việt Nam. Tính chất minh hoạ, tuyên truyền chính trị đã nhường chỗ cho những cảm xúc chân thật và sáng tạo nghệ thuật, mặc dầu nội dung của cả hai phim đều đề cập đến đề tài chiến tranh. Trái lại bộ phim truyện dài Một ngày đầu thu là một điển hình của thứ nghệ thuật công thức, giáo điều, lên gân. Năm 1962 phim Chim vành khuyên được Giải Ðặc biệt cho thể loại phim ngắn và phim Hai người lính đoạt Giải Vàng trong Tiểu hội Á - Phi tại Liên hoan phim Carlovy Vary (Tiệp khắc). Một làn gió mới được thổi lên từ sự xuất hiện của 2 bộ phim truyện ngắn nói trên, chuẩn bị cho sự ra đời của một kiệt tác trong điện ảnh Việt Nam: phim Chị Tư Hậu (1963).
Phim Chị Tư Hậu đánh dấu một bước tiến vượt bậc của điện ảnh phim truyện Việt Nam. Phim được xây dựng theo truyện ngắn Câu chuyện kể trong bệnh viện của nhà văn Bùi Ðức Ái, đạo diễn là Phạm Kỳ một đạo diễn từng tốt nghiệp điện ảnh tại Pháp. Phim nhận được Giải Bạc tại Liên hoan phim quốc tế Mat-scơ-va năm 1963. Ðây là giải thưởng quốc tế đầu tiên của Ðiện ảnh Việt Nam trong lĩnh vực phim truyện. Nữ diễn viên Trà Giang bắt đầu được công chúng Việt Nam mến mộ kể từ bộ phim này, trở thành một biểu tượng cho điện ảnh Việt Nam suốt trong nhiều năm về sau. Có thể coi phim Chị Tư Hậu cùng với Chim vành khuyên là những bộ phim kinh điển của điện ảnh Việt Nam.
Từ năm 1959, là năm xuất hiện bộ phim truyện đầu tiên cho đến năm 1975, khi Việt Nam thống nhất, kết thúc chiến tranh chống, điện ảnh Việt Nam đã sản xuất được 66 phim truyện. Trừ các phim Chị Tư Hậu, Chim vành khuyên và ở mức độ thấp hơn là Hai người lính, Vợ chồng A Phủ, tất cả các phim khác đều là sản phẩm của một nền nghệ thuật phục vụ những nhiệm vụ chính trị trước mắt. Khi những nhiệm vụ chính trị thay đổi thì những bộ phim trên cũng lập tức không còn được ai nhắc đến nữa. Các phim Việt Nam thời kỳ này chủ yếu xoay quanh các đề tài sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, chiến đấu. Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của những phim như Chị Tư Hậu, Chim vành khuyên, Hai người lính, Vợ chồng A Phủ là những ngoại lệ mà nguyên nhân của nó chúng tôi sẽ đề cập đến sau này. Xin đi vào phân tích từng phim:
- Chị Tư Hậu: Chị Tư Hậu làm nghề bà đỡ, có chồng hoạt động cho Việt Minh (trong kháng chiến chống Pháp). Viên sỹ quan đồn trưởng quân đội Sài gòn yêu chị, và trong một trận càn hắn đã hiếp chị. Tư Hậu đã toan tự tử, nhưng tiếng khóc của đứa con nhỏ làm chị thức tỉnh nhận ra nghĩa vụ làm mẹ của mình. Tin trên đến tai người chồng đi theo Việt minh. Anh trở về quyết trả thù tên sỹ quan đã làm nhục vợ mình, tha thứ cho vợ. Anh lại lên đường ra mặt trận. Chị ở lại tham gia du kích, vận động lính đối phương quay súng trở về với Cách mạng. Anh hy sinh ngoài mặt trận. Tư Hậu cùng với các chiến sỹ du kích đã san phẳng đồn giặc trả thù cho chồng. Câu chuyện trên rõ ràng không có gì đặc sắc. Nó cũng như bao chuyện trả thù ân oán trong chiến tranh. Tuy vậy nó có những nét mới chưa từng có trong phim Việt Nam: đó là nhân vật chính, không phải là một nữ chiến sỹ cách mạng kiên cường, mà là một người phụ nữ bình thường, lại bị hiếp, chồng chết, có nỗi đau riêng của mình. Chị tham gia du kích một cách tự nhiên xuất phát từ những tình cảm rất tự nhiên của con người. Chị không phải là một mẫu anh hùng mà ta được nhìn thấy trong rất nhiều phim Việt Nam trước và sau đó. Về thể hiện nghệ thuật bộ phim có nhiều tìm tòi (cảnh vợ chồng Tư Hậu chia tay nhau bên giòng sông có chiếc cầu gẫy, cảnh Tư Hậu lao ra biển định tự tử sau khi bị hiếp v.v...). Ngôn ngữ hình ảnh được sử dụng để kể lại câu chuyện phim (chứ không dùng lời thoại như các phim Việt Nam khác). Ngoài diễn xuất chân thực, đầy ấn tượng của nữ diễn viên Trà Giang cần phải nói đến những hình ảnh đầy sáng tạo cùng những chuyển động máy quay hết sức linh hoạt của nhà quay phim Khánh Dư. Ðây là phim đầu tay của Ðạo diễn Phạm Kỳ Nam. Anh từng học tại trường IDHEC (Trường điện ảnh) ở Paris từ 1950 đến 1955. Sau khi tốt nghiệp xong , anh trở về nước tham gia điện ảnh Việt Nam từ những ngày đầu. Anh đã cùng Ðạo diễn Nguyễn Hồng Nghi xây dựng bộ phim truyện đầu tiên (phim Chung một giòng sông) đứng tên là Phạm Hiếu Dân. Có thể nói Phạm Kỳ Nam là đạo diễn hàng đầu của Ðiện ảnh phim truyện Việt Nam thời kỳ đầu.
- Phim Chim vành khuyên với độ dài 45 phút, được xây dựng theo truyện ngắn: Hai cha con ông lái đò của Nguyễn Văn Thông . Ðây là bài thi tốt nghiệp của hai học sinh lớp đạo diễn khóa đầu tiên của Trường diện ảnh Việt Nam là Nguyễn Văn Thông và Trần Vũ. Nội dung phim kể về hai bố con ông lái đò, chuyên chở cán bộ qua sông trong kháng chiến chống Pháp. Một hôm, một toán thám báo địch phục kích bên sông để bắt cán bộ. Em bé gái con ông lái đò đã dũng cảm ra hiệu cho đoàn cán bộ chờ ở bên kia sông biết để trốn. Em bé đã hy sinh. Trước khi chết em bé thả con chim vành khuyên từ trong túi áo của mình. Chi tiết đó đã làm nhiều ngời xem xúc động. Hai đạo diễn Nguyên Văn Thông và Trần Vũ, trước khi vào học trường điện ảnh đã từng ở trong quân đội , từng viết văn, làm báo. Cũng như họ, tất cả các học viên khóa đạo diễn đầu tiên của Trường điện ảnh Việt Nam đều đã từng là những cán bộ văn nghệ trong kháng chiến, nhiều người có trình độ văn hóa tú tài dưới thời Pháp. Họ được cử đi học điện ảnh theo sự phân công của tổ chức. Có thể nói đó là những chiến sỹ được phân công làm điện ảnh. Ðối với họ điện ảnh là một nhiệm vụ được giao và họ phải cố gắng hoàn thành tốt. Phim Chim vành khuyên đã dành được Giải Ðặc biệt cho thể loại phim ngắn tại LHP Carlovy Vary (Tiệp khắc) năm 1962.
- Phim Hai người lính kể chuyện về một anh lính Việt Nam được lệnh giải một tên tù binh Pháp về hậu phương. Giữa đường tên tù binh định chạy trốn nhưng không thoát. Trên đường đi gặp máy bay Pháp, tên tù binh vẫy khăn trắng ra hiệu cho máy bay đến cứu, nhưng máy bay đã trút bom xuống làm cho một em bé Việt Nam bị chết. Dân làng căm thù muốn giết tên lính Pháp nhưng người chiến sỹ Việt Nam đã can họ. Anh nghĩ: Giết một tên tù binh thì dễ, cải tạo hắn trở thành một con người mới là khó... Ðó cũng là triết lý của bộ phim. Tại Liên hoan phim Quốc tế Carlovy Vary (Tiệp khắc) năm 1962, bộ phim đã nhận được giải Nhất của Tiểu hội Á - Phi trong khuôn khổ LHP. Ðạo diễn phim là Vũ Sơn, tốt nghiệp khóa đạo diễn đầu tiên của Trường Ðiện Ảnh Việt Nam. Ðây là bài thi tốt nghiệp của anh.
- Vợ chồng A Phủ (sản xuất năm 1961) là bộ phim truyện thứ hai của đạo diễn Mai Lộc, người đã đặt nền móng cho nền điện ảnh Việt Nam trong Kháng chiến chống Pháp. Phim làm theo tiểu thuyết của nhà văn Tô Hoài, một nhà văn được nhiều người Việt Nam yêu mến. Phim kể về một đôi thanh niên nam nữ người Mèo (một dân tộc ít ngời ỏ Việt Nam, chuyên sống trên núi cao). Anh tên là A Phủ, chị tên là Mỵ. Tên chúa đất gian ác đã bắt Mỵ về làm vợ lẽ cho con trai hắn, bắt A Phủ về làm đầy tớ suốt đời cho gia đình hắn để trả nợ. A Phủ và Mỵ yêu nhau. A Phủ cùng Mỵ trốn đi theo Việt minh để đấu tranh tự giải phóng mình, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngoài những khung cảnh thiên nhiên và những phong tục tập quán của người Mèo, bộ phim hấp dẫn người xem bởi những hình ảnh trau chuốt của nhà quay phim Khương Mễ. Phim được đánh giá là một thành công của điện ảnh Việt Nam.
Sự thành công của 4 phim trên có thể cắt nghĩa như sau: Mặc dầu nền điện ảnh Việt Nam ngay từ đầu đã được định hướng như một nền nghệ thuật Tuyên truyền, Biểu dương, và Giáo dục, nhưng thực tế chiến đấu của nhân dân Việt Nam đã rung động sâu xa những người nghệ sỹ điện ảnh. Từ những xúc cảm chân thành đó họ đã làm ra những bộ phim lay dộng được trái tim của người xem, vượt ra ngoài khuôn khổ tuyên truyền chính trị khô khan. Trái lại những phim về đề tài về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc lại không mấy thành công. Rất nhiều phim về đề tài đó được làm như một nghĩa vụ, lập tức rơi vào quên lãng không để lại dấu vết gì (Chuyện vợ chồng anh Lực, Hoa thiên lý, Ðộ dốc, Người về đồng cói, Bình minh trên rẻo cao, Ga, Phía Bắc thủ đô, Quê nhà v.v...).
Năm 1972 xuất hiện bộ phim Sau cơn bão của Ðạo diễn Phạm Văn Khoa. Trong phim này ông đã dùng yếu tố hài để phê phán một cách nhẹ nhàng những thói hư tật xấu ở nông thôn. Có thể coi đây là bộ phim hài đầu tiên của điện ảnh VN. Chất hài đó còn được tiếp tục trong phim Kén rể của Phạm Văn Khoa làm cùng với Nông Ích Ðạt.
Nói về điện ảnh thời kỳ này kể cũng nên nhắc đến bộ phim hai tập Vỹ tuyến 17 - ngày và đêm của nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ và đạo diễn Nguyễn Hải Ninh. Có thể nói đây là bộ phim tiêu biểu cho giòng phim tuyên truyền, phục vụ cho những nhiệm vụ chính trị trước mắt. Các sự kiện của phim diễn ra trong khoảng thời gian dài từ những ngày chấm dứt chiến tranh Pháp-Việt (1954) cho đến năm 1968, khi người Mỹ can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nội dung câu chuyện cũng không khác gì nhiều so với bộ phim truyện đầu tiên của điện ảnh Việt Nam Chung một giòng sông… Cũng là sự chia cắt tình duyên lứa đôi do đất nước bị chia cắt. Chị Dịu ( do diễn viên Trà Giang đóng) có chồng tập kết ra Bắc (sau Hiệp định Geneves năm 1954). Viên sỹ quan Cộng Hòa Trần Sùng yêu chị, hắn quyết tâm tiêu diệt cộng sản ở làng quê của chị. Sau nhiều lần ép chị không được hắn đã tra tấn chị rất dã man, nhưng chị vẫn kiên cường bất khuất. Trong một trận càn của lính Cộng Hòa về làng, tên Trần Sùng đã bị chị Dịu cùng du kích giết chết. Tại Liên hoan phim quốc tế Mát-scơ-va năm 1973 nữ diễn viên Trà Giang đã nhận được giải nữ diễn viên xuất sắc cho vai Dịu trong phim này. Ðây là giải thưởng quốc tế đầu tiên cho một nữ diễn viên Việt Nam. Khi mới ra đời bộ phim được lãnh đạo và báo chí khen ngợi. Nhưng cùng với thời gian bộ phim đã không còn đứng được trong lòng công chúng (ngoại trừ hình ảnh chị Dịu do Trà Giang đóng), bởi tính chất công thức, minh họa một chiều của bộ phim.
Một bộ phim nữa cũng thuộc giòng phim này là phim Nổi gió (của hai đạo diễn Huy Thành và Lê Bá Huyến) chuyển thể theo vở kịch cùng tên của nhà soạn kịch Ðào Hồng Cẩm. Câu chuyên kể về mối xung đột giữa một người chị theo bên Cách mạng và một người em là sỹ quan lính Cộng hòa ở phe đối địch. Tình cảm chị em và trách nhiệm của một sỹ quan giằng xé viên sỹ quan trẻ. Những tình cảm đó đã không lọt qua mắt viên cố vấn Mỹ giầu kinh nghiệm. Cuối cùng thì người chị đã cảm hóa được đứa em . Phim được coi là một thành công của điện ảnh Việt Nam bởi diễn xuất sinh động của Diễn viên Thế Anh đóng vai Trung úy Phương và nữ diễn viên Thụy Vân đóng vai người chị.
Phim truyện Việt Nam thời kỳ 1959 đến 1975 chủ yếu đề cập đến đề tài chiến tranh của một đất nước chìm đắm trong khói lửa chiến tranh.
+ PHẢN HỒI CỦA BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT:
Các tin khác
Điện ảnh cách mạng việt Nam giai đoạn 1954 -1975
Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đập tan ách áp bức đế quốc phong kiến mang lại tự do cho nhân dân Việt Nam. Chính phủ...
Cuộc cách mạng tháng Tám 1945 đập tan ách áp bức đế quốc phong kiến mang lại tự do cho nhân dân Việt Nam. Chính phủ...
Những hoạt động đầu tiên của điện ảnh Việt Nam
Dưới ách thông trị của đế quốc Pháp, đất nước Việt Nam “Chìm đắm trong canh dài thăm thẳm của một thuộc...
Dưới ách thông trị của đế quốc Pháp, đất nước Việt Nam “Chìm đắm trong canh dài thăm thẳm của một thuộc...
Thời kỳ sơ khai của điện ảnh Việt Nam
Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tai tiệm Cà phê lớn ( Grand café) ở đại lộ Ca-pu-xin-nơ (capucines), thủ đô Pa-ri(Paris) của...
Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tai tiệm Cà phê lớn ( Grand café) ở đại lộ Ca-pu-xin-nơ (capucines), thủ đô Pa-ri(Paris) của...
Sự kiện phim trường
- Những vụ tự sát chấn động Hollywood – Phần 2
- Người đẹp Hollywood “thất thế”…?
- Rừng Na Uy đại diện cho Nhật Bản tham dự LHP Venice
- "Tân Hoàn Châu Cách Cách" bị fans chê là "quê mùa"
- Nóng 100 độ! Loạt hình đầu tiên của Kim Hyun Joong trong "Thơ Ngây"!
- Nghe Vũ Thu Phương kể chuyện bị đánh trên trường quay
Giới thiệu phim
- "Bản sao của Song Hye Kyo" tung trailer làm xứ Trung "run rẩy"
- "Chàng ăn mày đẹp trai nhất Trung Quốc" sắp lên phim
- Goo Hye Sun bắt đầu cất "tiếng hót" trong phim mới
- "Rừng Na Uy" ra lò trailer cực bắt mắt
- Selena Gomez "khóa môi" cực yêu trong phim mới
- "High School Musical" phiên bản Trung tung trailer nóng bỏng
- Ngưỡng cửa cuộc đời
- Eclipse - Khi tình yêu là phải lựa chọn
- Elly Trần "khoe sắc" trong phim hiphop Việt
- Xem Từ Hy Viên "nhéo tai" hoàng thượng
- Mưa rơi (phim: Người đàn bà yếu đuối)
- Bài ca gió (phim: Chuyện tình đảo ngọc)
- Xin lỗi tình yêu (phim:Xin lỗi tình yêu)
- Em nhớ anh nhiều (phim:Gọi giấc mơ về )
- Dòng thời gian (phim:Mùi ngò gai )
- Chân tình (phim:Lọ lem hè phố )
- Tiếc (phim:Bẫy rồng )
- Dòng Sông Không Trở Lại (phim: Dòng đời )
- Cô gái xấu xí (phim: Cô gái xấu xí )
- Giấc Mơ Tuyết Trắng (phim:Tuyết nhiệt đới )

