Giới thiệu hội điện ảnh
Tọa đàm đầu tư
Tin tức
Âm nhạc và điện ảnh
Hội điện ảnh Việt Nam » Lịch sử điện ảnh Việt Nam » Thời kỳ sơ khai của điện ảnh Việt Nam
send to a Friend Print this page
I.1 Điện ảnh – một phát mình kỳ diệu cuối thế kỷ XIX
Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tai tiệm Cà phê lớn ( Grand café) ở đại lộ Ca-pu-xin-nơ (capucines), thủ đô Pa-ri(Paris) của nước Pháp, đãc ó một cuộc trình chiếu phim với máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ (Cinématographe) do nhà hoạt động công nghiệp trẻ tuổi Lu-i Luy-mi-e (Louis Lumiere) thực hiện.
Cuộc trình chiếu đã thành công rực rỡ, được tất cả những người tham dự nhiệt liệt tán thưởng, ca ngợi phát minh “trò chớp bóng hình”. Và ngày hôm ấy, về sau này, được coi là ngày khai sinh của điện ảnh thế giới. Cũng từ đó tên tuổi Lu-i Luy-mi-e luôn gắn với buổi bình mình của lịch sử nên Nghệ thuật Điện ảnh. Các từ ngữ Xi-ne-ma (Cinéma), Xi-nê (Ciné), Ki-nô (Kino)…sau này được khắp thế giới sử dụng đều có người gốc từ tên của loại máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ của L. Luy-mi-e.
L. Luy-mi-e. thành công lớn và thành danh chủ yếu bắt đầu từ chiếc máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ đa tính năng : Nó vừa ghi được hình lên bề mặt phim nhựa, rồi cũng sử dụng chính nó để in từ phim âm bản gốc ra các bản phim chiếu (dương bản), và cũng lại chính nó chiếu được phim lên màn ảnh. Chiếc máy này ưu việt hơn hẳn tất cả những loại máy chiếu hình chuyền động khác hiện diện cùng thời của các nhà sáng chế tại Pháp, Đức, Mỹ , Anh.
Tuy thế, chỉ từ 6 tháng đến 18 tháng sau sự thành công của L.Luy-mi-e với chiếc máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ, “ thần tượng” này đã nhanh chóng mờ nhạt dần, bởi tại một số nước ở Châu Âu và ở Mỹ đã xuất hiện những chiếc máy chiếu chuyên dụng (chỉ sử dụng riêng cho việc chiếu phim) hoàn hảo về kỹ thuật và có thể cạnh tranh ngang ngửa với Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ như: Bai-ô-gơ-ráp (Bioraph)- Mỹ, Uy-liêm Pơn (William Paul)-Anh, Cơ-rơ-nô-phô-tô-gơ-ra-phơ (Chronophotograph) và Sác-lơ Pa-tê ( Charles Pathé)- Pháp,vv..
Cuộc hành trình đó từ đồi chơi quang học đầu tiên có tên gọi là “ vòng quanh kỳ diệu”-ra đời năm 1825 (Một cái hình đã giấy các-tông đơn giản, mặt trước và mặt sau đều có hình vẽ, khi làm cho các chiếc giấy quay nhanh thì 2 hình ở 2 mặt chồng lên nhau) đến khi điện ảnh được khai sinh chính thức (12-1985) vừa tròn 70 năm.
Sự kiện điện ảnh chính thức ra đời, qua cuộc trình chiếu phim ngày 28-12-1895 tại Pa-ri, nước Pháp, đã dẫn đến sự kết thúc nhanh chóng thời kỳ nó được nghiên cứu và chiếu thử ở trong các phòng thíh nghiệm, và nó mở ra một thời kỳ mới: Thời kỳ tham gia vào đời sống văn hoá tình thần của nhân loại, với sự xuất hiện một loạt buổi chiếu phim công cộng có bán vé thu tiền (từ cuối năm 1896) song song với sự xuất hiện của các cơ sở công nghiệp điện ảnh và các hãng làm phim.
Tại “ cái nôi” của điện ảnh thế giới, nước Pháp, trong “thời kỳ những người mở đường” (1896-1908) – như cách gọi của nhà sử học điện ảnh nổi tiếng thế giới Gioóc Sa-đun (Georges Sadoul) – chói sáng những tên tuổi như Lu-i Luy-mi-e (Louis Lumiere), Sa-đun (Georges Sadoul), Sác-lơ Pa-tê ( Charles Pathé).
Những hãng có các cơ sở công nghiệp điện ảnh không chỉ sản xuất máy chiếu phim, máy quay phim và thiết bị tráng phim, mà đồng thời cũng tự mình tổ chức việc làm phim để bán và cho thuê chiếu thông qua các chi nhánh, đại lý của mìh tại các nước đã có hoạt động chiếu phim.
Sự ra đời hàng loạt những phim có diễn viêcn đóng hay, hấp dẫn người xem vào thời kỳ ấy đã nhanh chóng nâng “trò chớp bóng mua vui chốc lát” lên thành một môn nghệ thuật mới của thời hiện đại – là “nghệ thuật tổng hợp”, “nghệ thuật thứ bảy” như cả thế giới vẫn gọi nó đã hàng trăm năm.
Điện ảnh xuất hiện khi một số nước châu Âu ( Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đảo Nha, Hà Lan, Ý, Đức, Áo…) và nước Mỹ đã đi xâm chiếm được nhiều nước khắc trên thế giới, lấy làm thuộc địa của mình. Thậm chí không hiếm trường hợp thuộc địa bịa sáp nhập thành lành thổ của các đế quốc xâm lược. Điển hình là đế quốc Anh, nước đã từng hãnh diện tuyên bố: “Mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ vương quốc Anh” (!). Sản phẩm điện ảnh (Máy, phim) của nước này sản xuất ra thường sớm được giới tư sản điện ảnh mới hình thành đem tước các thuộc địa để kinh doanh kiếm lời dươci chiêu bài “ khai phá văn minh”.
I.2. Chính quyền cai trị thuộc địa và điện ảnh thuở mới du nhập vào Việt Nam
Do có vị trí chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam châu Á và nằm ven bờ biển Đông thông với Thái Bình Dương, từ nơi đây rất thuận lợi trong hoạt động giao thương với các nước ở ven bờ Ấn Độ Dương, và quan đó tới dược các nước ven bờ Đại Tây Dương, cho nên Việt Nam đã bị một số nước ở Châu Âu sớm phát triển chủ nghĩa tư bản – trong quán trình đi tìm kiếm đánh chiếm thuộc địa quan tâm dòm ngó, tìm cách thôn tính.
Giữa thế kỷ XIX, năm 1858 – vào ngày 1 tháng 9, hạm đội của Pháp và Tây Ban Nha đanghs chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng).
Đế quốc Pháp nhanh chân hơn các nước là đối thủ cạnh tranh giành thuộc địa ở vùng Đông Nam Á, chiếm trọng ba nước Việt Nam, Ai Lao (Lào), Cao Miên (Campuchia). Riêng đối với Việt Nam, từ đầu năm 1859 đến giữa năm 1867 thực dân Pháp lần lượt chiếm cả 6 tỉnh Nam Kỳ, bao gồm cả quần đảo Côn Lôn (Pháp chiếm lần thứ ba – 28-11-1861), và đơn phương tuyên bố là lãnh đại của Pháp. Tới ngày 6 tháng 6 năm 1884, bằng hiệp ước ký tại Huế với triều đình nhà Nguyễn, đế quốc Pháp hoàn tất việc xâm chiếm toàn bộ đất nước Việt Nam.
Hơn ba năm sau đó, vào ngày 17 tháng 10 năm 1867, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm 5 xứ: Nam kỳ, Trugn Kỳ, Bắc Kỳ (đất nước Việt Nam bị Pháp chia cắt thành 3 kỳ-theo chính sách chia để trị của Pháp), Ai Lao và Cao Miên. Pháp đặt chế độ Toàn quyền Đông Dương để cai trị thống nhất toàn bộ 5 xứ, với các thể chế có sự khác nhau trên danh nghĩa: Nam kỳ là xứ Pháp cai trị trực tiếp theo chế độ thuộc địa; Trung Kỳ và Bắc Kỳ do Pháp thiết lập nền “bảo hộ” nhưng vẫn tồn tại triều đình nhà Nguyễn làm bù nhìn (theo hiệp ước ký kết tại Huế ngày 25 tháng 8 năm 1883).
Từ ấy nước Việt Nam, với tên gọi khi ấy là An Nam, bị xoá tên trên bản đồ thế giới và từ xã hội phong kiến chuyển thành xã hội thuộc địa – nửa phong kiến.
Khi điện ảnh được chính thức khai sinh trên đất Pháp (12-1985), thì đế quốc Pháp thống trị Việt Nam trên phạm vi cả nước 12 năm, nhưng vẫn còn phải đối phó một cách khó khăn với phong trào Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa chống Pháp xâm lăng của nhân dân ta khắp cả 3 miền Bắc, Trung Nam liên tiếp nổ ra. Bởi vậy đi đối với thực thi các chính sách đàn áp khốc liệt và khẩn trương bị khai thác, bóc lột thuộc đia, nhà cầm quyền Pháp cũng thực thi chính sách mị dân.
Du nhập điện ảnh vào thuộc địa Việt Nam, người Pháp quảng cáo dưới chiêu bài “khai hoá văn minh” cho người bản xứ.
Qua báo chí xuất bản tại Sài Gòn cuối những năm 90 thế kỷ XIX, lâu nay các nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh đã được biết rằng điện ảnh du nhập từ Pháp vào Việt Nam khá sớm: Chỉ chưa đầy 3 năm sau buổi trình chiếu phim tại tiệm Cà phê lớn ở Pa-ri ngày 28 tháng 12 năm 1895. Người ta tìm thấy các mẩu quảng cáo về buổi chiếu phim ở Châu Thành – Chợ Lớn, phía trước dinh tổng thổng Chợ Lớn, trên tờ tuần báo Nam Kỳ số 50 (ra ngày 6 tháng 10 năm 1898) và số 51 (ra ngày 13 tháng 10 cùng năm).Thuở ấy người ta gọi buổi chiếu phim là buổi trình diễn “trò chớp bóng”.
Theo quảng cáo về buổi chiếu phim này, ngoài mấy phim thời sự ngắn còn có chiếu bộ phim truyện Yêu tinh râu xanh (Barbe lbeu), bắt đầu từ 20h với giá vé rất đắt:
- Buồng (cabine) 4 chỗ ngồi: 5 đồng (tiền Đông Dương)
- Ghế hạng nhất: 1 đồng/vé
- Ghế hạng nhì: 0,5 đồng/vé
- Ghế hạng ba : 0,3 đồng/vé
Cũng trên tuần báo Nam Kỳ, các số 81 (ra ngày 18 tháng 5 năm 1899) và số 83 (ra ngày 10 tháng 6 năm 1899), người đọc lại thấy có đăng những dòn quảng cáo về các “ cuộc hát hình máy”.
Đó là những thông tin có độ tin cậy cao, đượclaon báo rộng rãi sớm nhất trên tờ báo đầu tiên xuất bản bằng tiếng Pháp tại Sài Gòn cuối thế kỷ thứ XIX, về sự sớm có hoạt động điện ảnh ở Việt Nam.
Những năm sau đó- cho đến khi nổ ra cuộc chían tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) – trên báo chí xuất bản tại Sài Gòn và Hà Nội thời ấy xuất hiện ngày càng nhiều trong mảng quảng cáo những buổi chiếu phim (phim của Pháp và một vài nước khác), do các chủ máy chiếu thực hiện theo kiểu đi chiếu dạo (đi chiếu lưu động), đôi khi cũng do các nhà đương cực của chính quyền cai trị thuộc địa đứng ra tổ chức tại các khách sạn lớn này, nhà hàng lớn nọ, thi thoảng ở cả công sở, nhân các ngày lễ trọng thể hoặc sự kiện chính trị nào đó. Khán giả của các buổi chiếu phim toàn là các quan chức, viên chức người Pháp, các chủ công ty công nghiệp và doanh nghiệp người Pháp. Vác quan chức cấp cao “người bản xứ”. Có những buổi chiếu phim dành riêng cho các đơn vị quân đội Pháp chiếm đóng thuộc địa, do bộ tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương thuê chủ kinh doanh chiếu bóng cử người đem máy, phim đến chiếu ở trong doanh trại. Qua báo chí người ta được biết, cũng có đôi bao trường hợp ngoại lệ : Lâu lâu mới có một vài buổi chiếu phim ở nơi công cộng cho “dân chúng bản xứ” được mua vé vào xem nhân dịp có hội chợ, triển lãm và lễ hội.
Cũng qua những tin vắn, quảng cáo trên báo chí hồi ấy, mà ta được biết :Từ rất sớm đã có người Pháp đến Nam Kỳ quay những mẩu phim thời sự rồi đem chiếu ngay tại “Xứ Nam kỳ thuộc địa”. Đó là ông Lê-ô-pôn Béc-na, người đã quay những hình ảnh phong cảnh, sinh hoạt, sản xuất ở Vùng Sài Gòn- Chợ Lớn-trong đó có những hình ảh về xưởng giấy ở Chợ Lớn ( theo tuần báo Nam Kỳ) só 81, ra ngày 18 tháng 5 năm 1899).
Từ nướ Pháp đến Việt Nam quay phim sớm nhất là Ga-bri-en Vây-rơ (Gabriel Veyre), phóng viên của Hãng Luy-mi-e (Louis Lumiere) và hai trợ lý của ông. Họ quay phim ở Việt Nam gần 8 tháng. Gần cuối chuyến đi này, họ tớ quay phim ở Cam – phu – chia (từ ngày 9 tháng 10 năm 1899 đến ngày 15 tháng 12 năm 1899) rồi trở lại Việt Nam quay tiếp.
Ngày nay, tại kho phim của hãng Luy-mi-e, người ta vẫn còn lưu giữ được những mát phim do nhóm Ga-bri-en Vây-rơ về viên Toàn quyền Pôn đu-me (Paul Doumer) và vợ cùng con gái của ông ta; cảnh quay những sĩ quan, binh lính Pháp và binh lính Việt trong một cuộc diễu binh tại Sài Gòn; hình ảnh binh lính người Việt tập võ; cảnh nông dân Việt Nam phát cỏ khai hoang; những hình ảnh về công nhân người Việt làm việc ở xưởng gạch và bên bỗ tại Hà Nội; làm đường sá ở Sài Gòn, khai thác than đá tại Hòn Gai; cảnh quay quan lại tại triều đình Huế quỳ lạy nhà vui; các cảnh về hội hoa và múa rồng ở Chợ Lớn, đua thuyền ở Sài Gòn; cảnh những người dân phu người Việt khiêng các quan lại Phá và Việt bằng kiệu và võng trên đèo Hải Vân và những cảnh sinh hoạt đời thường của người Việt Nam như ăn cơm, múa, đám tang, hút thuốc phiện… (Viện lưu trữ phim nước Pháp đã in sao 32 cảnh phim có nội dung như trên tặng cho Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam).
Việc du nhập điện ảnh vào Việt Nam diễn ra trong thời gian Pôn đu-me (Paul Doumer) đảm nhận chức toàn quyền Đông Dương ( 2- 1897-3-1902). Pôn đu-me (Paul Doumer) là người thực hiện một cách ráo riết và có hiệu quả cao chủ trương của chính phủ Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa Việt Nam lần thứ nhất (1897 -1913). Ông nổi tiếng và để lại dấu ấn lâu dài với công trình xây dựng hệ thống đường sắt và cây cầu lớn bắc qua song Hồng với công trình mang tên ông (sau này có tên cầu Long Biên)- khánh thành năm 1902 sau 4 năm xây dựng.
Trong những năm có cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918) hoạt động chiếu phim ở Việt Nam được nhà cầm quyền Pháp hưogns vào nội dung: Tuyên truyền ở thuộc địa nước Pháp văn minh, hùng mạnh, giàu có, nhiều thuộc địa..; hỗ trợ cho cuộc tuyên truyền chiến thắng của Pháp và bắt lính thuộc địa đưa sáng Pháp để bảo vệ “ mẫu quốc”. Thực dân Pháp cũng giật dây chính phủ Nam triều nhà Nguyễn mở cuộc vận động “ Rồng Nam phun bạc” để vơ vét tài sản của nhân dân Việt Nam, cung ứng cho cuộc chiến tranh ấy.
Chiến tranh làm cho nước Pháp hao tổn nhiều về người và của,nên tài chính và kinh tế gặp nhiều khó khăn. Vì thế, ngay từ khi chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn chính quyền cai trị thuộc địa Đông Dương đã toan tính chuyện gia tăng bóc lột thuộc địa khi chuyển snag thời kỳ hậu chiến. Với ý đồ như vậy , năm 1916 viên Toàn quyền Đông Dương An-be Sa-rô (Albert Sarraut) đã yêu cầu Bộ Chiến Tranh (Quốc Phòng) của chính phủ Pháp cử một Đoàn điện ảnh Quân Đội (Mission Cinématographique) sang Đông Dương – chủ yếu là Việt Nam – để quay phim. Đoàn gồm hai người là Tê-tác (Tétard) và Bơ-ruyn (Brun). Họ chỉ quay các phim phóng sự, tài liệu ngắn. 17 trong số 20 phim do họ thực hiện lần ấy là quay ở Việt Nam, có các nội dung : Phong cảnh đất nước, con người An Nam – tức Việt Nam ngày nay – qua các cảnh quay tại Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Bắc Cạn, sông Hương, sông Cửu Long; một số bản làng, ngừoi dân tộc thiểu số…); các cơ sở kinh tế (các đồn điền cao su và mía, xưởng sản xuất thuốc lá, trường dạy nghề gốm, mộc, đúc ở Biên Hoà); về văn hoá của “dân bản xứ” (tế Đàn Nam Giao, các lăng tẩm vua nhà Nguyễn ở Huế, sinh hoạt trong cung đình Nam triều – Huế, kiến trúc ở Bắc Kỳ),vv…Tất nhiên là những cảnh quay của những của các phim ấy sau khi thu hình đều được đem về Pari in tráng,làm hậu kỹ và nhân bản đển chiếu ở Pháp, nhằm giới thiệu thuộc địa này cho các nhà chức trách, kỹ nghệ gia, doanh nhân và dân chúng Pháp, qua đó kêu gọi đầu tư khai thác thuộc địa Đông Dương đặng góp phần khôi phục nền kinh tế của “mẫu quốc” sau chiến tranh.
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc vào ngày 11-11-1918.Pháp là nước thuộc địa phe giành thắng lợi của quân đội Pháp.
Có một bộ phim phóng sự do người Pháp thực hiện về đề tài Việt Nam đã một thời gây ra sự bất bình lớn trong nhiều giới, nhiều tầng lớp nhân dân đất nước này. Bộ phim mang tựa đề Khải Định, vua An Nam. Phim được làm nhân chuyến đi hội chợ Mácxây (Marseille) và thăm thú nước pháp trong hai tháng 7 và 8. Nơi ấy là thành phố cảng lớn hàng đầu ở Châu Âu bấy giờ.
Nhà báo lão thành, nà văn Nguyễn Khắc Hanh có lần nhân nhắc đến bộ phim Khải Định, vua An Nam đã kể về cách thức của tác giả phim thể hiện ông vua này:
... “Một hình vòng tròn to như cái nong, gần kín cả phòng màn ảnh.Bên trong hình cái nong là rồng cuốn, mây bay, hoa văn viền quanh...Người xem chưa hiểu ra thế nào, thì ống kinh lùi dần ra xa, lúc đó mọi người mới nhận ra đó là mũi của một cái hia. Ống kính nâng lên đến cổ một đôi hia, chiếc quần trẳng xỏ vào trong cổ hia. Đến lúc này mọi người đã đoán được là một người nào đó đang đứng cho họ quay phim. Trên cổ hia và một phầnống quần là chiếc áo. Lại hình rồng bay, phượng múa, gấm hoa, châu ngọc. “Đúng là ông vua của mình rồi”-trong rạp có tiếng bật lên. Ống kính cứ nâng dần lên tới bụng, ngực , rồi cổ. Người xem hồi hộp. Vừa lúc ấy hiện ra gương mặt vua Khải Định. Trong rạp nhiều tiếng ồ lên..
Hình như ông ta như đánh phấn, thoa son, mặt choắt, gày gò, má lại hồng, nom hề lắm. Ông ta đội nón, trên có chóp nhọn, chắc là nón làm bằng vàng...”
Nhà báo Nguyễn Khắc Hanh đoán chừng đoạn phim này đã được thu hình khi vua Khải Định sang Pháp (dự hội chợ Mác-xây).Cùng đi với vua, có hoàng tử Bảo Đại và một số hoàng thân, thượng thư. “Hình như theo yêu cầu của Pháp, nhà vua tổi chức thiết triều theo nghi lễ Hoàng gia An Nam”
Về những bộ phim phóng sự, tài liệu người Pháp làm về đề tài Việt Nam theo cách nhìn của bọn thực dân đối với dân ta hồi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhận xét khái quát qua lời kể lại trong bài nói chuyện của người tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba:
“Hồi đó chỉ có chiều bóng câm, bọn thực dân Pháp dùng chiếu bóng để bôi nhọ dân ta. Thí dụ : Trong hội chợ ở Mác – xây, ngoài những tranh vẽ kể công khanh Việt Nam lúc nhúc lạy quỳ trước Vua bù nhìn cùng chó ngao, toàn quyền, khâm sứ, ngàoi những công nhân trần trịu kéo xe thuê, còn có chiếu bóng mà trong phim có những bà già ăn trầu răng đen, những nông dân gày gò rách rưới, những người đáng khố đang trèo dừa. Chùng gọi đó là “ hình ảnh An Nam”.
I.3 Người Pháp kinh doanh điện ảnh tại Việt Nam
I.3.1. Rạp chiếu bóng ra đời.
Từ đầu thập kỷ thứ nhất thế kỷ XX, trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 -1918), chiếu bóng đã không còn xa lạ với dân cư các đô thị lớn ở Việt Nam.Hàng chục đầu máy chiếu phim mỗi đêm chiếu ở những địa điểm khác nhau, thu hút khá đông giới trí thức và giới trung lưu sinh sống ở các đô thị lớn. Một số chủ máy đã này ra ý định tạo nên những điểm chiếu phim cố định: mở các rạp chiếu bóng. Song họ chưa kịp thực hiện ý định của mình thì nổ ra chiến tranh thế giới thứ nhất. Nước Pháp tham gia cuộc chiến giành thuộc địa trên qui mô lớn này. Chiến tranh không lan đến thuộc địa Đông Dương của Pháp. Tuy thế của cải, tài nguyên và cả nhân lực của nước này đều được huy động đến mức tối đa phục vụ vho nước Pháp tiến hnàh chiến tranh kể cả việc bắt trai tháng đi lính sang Pháp chiến đấu ở ngoài mặc trận bên cạnh “quân đội chính quốc”. Trước tình hình dó các nhà tư sản điện ảnh Pháp chưa vội bỏ vốn xây dựng các rạp chiếu bóng ở Việt Nam.
Sau chiến tranh, “ mẫu quốc”- như đế quốc PHáp vẫn tự xưng – bắt đầu gia tăng mạnh mẽ công cuộc khai thác thuộc địa nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng kiệt quệ kinh tế, tài chính của mình. Việt Nam trở thành một trong nhữnh mảnh đất màu mỡ đối với các nhà tư sản Pháp kinh doanh phim điện ảnh.Những rạp chiếu bóng bắt đầu xây dựng tại Hà Nội, Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi tiếp đó là các khu đô thị khác.
Ở Hà Nội, rạp Anh em nhà Pa-tê ( Phathé Frères) tại mảnh đấtbãi cỏ cạnh đền Bà Kiệu, gần hồ Hoàn Kiếm, khánh thành ngày 10 tháng 8 năm 1920 – theo thông tin trên tờ Thực nghiệp dân báo, số ra cùng ngày. Trên báo này viết:
Rạp chớp ảnh Pathé (bên cạnh đền Bà Kiệu)
Tối nào cũng chpứ từ 9 giờ đến 11 giờ.
Thứ năm, chủ nhật chớp từ 5 giờ đến 7 giờ.
Nên cho trẻ con xem.
Hạng nào cũng có quạt máy.
Sang năm 1921, ngày 12 tháng 6, Hà Nội có them rạp Người Bắc Kỳ ( Le Tonkinois) ở phấp Hàng Quạt, có biển đề Cinéma Tonkinois. Mấy rạp khách cũng được khải trương sớm ở hà Nội là:
Rạp Pa-la-xơ (Palace) ở phố Pôn Be (Paul Bert), sau này là phố Tràng Tiền*
Rạp Pha-mi-li (Family) ở phố Hàng Buồm có bề ngang rất hẹp và bề dài thì sâu hun hút vào phía trong, thành kiểu hình nhà ống. Để có đủ diện tích tại dựng một cái rạp chiếu bóng ở nơi này những chủ rạp mua hai ngôi liền nau, phá tường ngăn đi. Màn ảnh trẻo ở phía trong. Phía ngoài, giáp hè phố, là cửa vào và một căn phòng nhỏ hẹp dùng làm nơi bán vé.
Ở Sài Gòn và Chợ Lớn đến giữa thập kỷ thứ hai thế kỷ XX, đã có 8 rạp chiếu bóng, trong đó Ca-xi-no (Casino) – xây dựng từ trước năm 1924-được coi là bề thế nhất vào thời gian đó.
Thoạt đầu tất cả các rạp đều do người Pháp đứng tên làm chủ kinh doanh. Giữa những năm 20 thế kỷ XX mới có vài rạp do người Hoa làm chủ như Sán – tài – lục ở Chợ Lớn. A Sam- sau đó có tên là Đa – Kao-ở Sài Gòn và Pha-mi-li ỏ Hàng Buồm – Hà Nội.
Phim chiếu tại các rạp khi ấy hầu hết là phim của Pháp. Ngoài ra có một số lượng rất ít la phim của các nước Mỹ, Anh, I-ta-li-a…
Việc nhập khẩu phìm vào Việt Nam nói riêng, vào toàn Đông Dương nói chung, và phân phối phim cho các rạp chiếu đều do các nhà tư sản công nghiệp điện ảnh người Pháp nắm giữ.
Đến năm 1927, theo niên giám thống kê kinh tế Đông Dương, trên cả nước Việt Nam đã có 33 rạp chiếu bóng, phân bố như sau:
Ở Bắc Kỳ cơ 10 rạp (Hà Nội – 4 , Hải Phòng -2, Nam Định-1, Thái Nguyên-1, Lào Cai-1, Cao Bằng-1).
Ở Trung Kỳ có 7 rạp ( Huế -2, Đà Nẵng-2, Nha Trang-1, Nghệ An-1, Hà Tĩnh-1).
Ở Nam Kỳ có 16 rạp (Sài Gòn-4, Chợ Lớn-4, Gia Định -1. Cần Thơ-2, Mỹ Tho-1, Bến Tre-1, Sóc Trăng-1, Bạc Liêu-1, Thượng Đồng Nai hay là Lâm Đồng-1).
Trên cơ sở phần lớn trong số lượng rạp kể trên được gom thành một mối phân phối và khai thác, kinh doanh phim, một công ty chuyên kinh doanh ở lĩnh vực này, với số vốn ban đầu 3 triệu 200 nghìn đồng Phơrăng (tiền Pháp), đã được thành lập tại Việt Nam ngày 11 tháng 9 năm 1927; công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Société Indochine Films et Cinemas – Viết tắt là IFFC). Trụ sở chính của công ty đặt ở Sài Gòn. Công ty này của người PHáp không chỉ độc quyền kinh doanh phim khai thác phim nhập khẩu tại các rạp của mình), mà còn được quyền kinh doanh phim nhập khẩu (cho các rạp thuê phim để chiếu, đồng thời trực tiếp khai thác phim nhập khẩu tại các rạp của mình), mà còn được quyền tổ chức sản xuất phim tại bán đảo Đông Dương.
7 năm sau đó, 1930, cũng cở Sài Gòn, lại ra đời một công ty kinh doanh phim và chiếu bóng có tên là công ty Chiếu Bóng Đông Dương (Société des Ciné Théatres d’Indochine – viết tắt là SCTI), thường được gọi khi giao dịch với cái tên rút gọi là Xi-nê-In-do (Ciné Indo). Chủ công ty này là người Pháp gốc Do Thái vốn có mặt ở Sài Gòn, Chợ Lớn từ những năm đầu điện ảnh du nhập Việt Nam, lập nghiệp bằng nghề chiếu bóng dạo (lưu động), rồi sau làm ăn phát đạt, làm chủ một số rạp chiếu bóng ở Việt Nam, Lào, Campuchia.
Hầu hết các rạp chiếu bóng ở Đông Dương bấy giờ là tài sản của hai công ty kể trên.Một số ít rạp khác, phần lớn là người Pháp và mấy người Hoa làm chủ để thuê phim của 2 công ty ấy.
Trước thập kỷ thứ ba thế kỷ XX mỗi rạp chỉ lắp đặt 1 máy chiếu phim. Khi chiếu hết một cuộn phim thì các đèn trong rạp lại bật sang vào thời gian thợ máy chiếu thay cuốn phim mới khác, rồi chiếu tiếp. Màn ảnh làm bằng những đoạn vải trẳng may lối liền nhau, xung quanh viền vải xanh thẫm hoặc vải đen. Khán giả ngồi trên các ghế tựa bằng gỗ ( loại sang) và ghế băng gỗ có vải đen. Sàn của phòng chiếu bằng phẳng, cho nên để tránh cảnh người ngồi sau nhìn vướng đầu người ngồi đằng trước người tat reo màn ảnh cao, khiến mọi người đều phải ngửa cổ lên nhìn, thành ra luôn bị mỏi cổ. Từ nửa cuối thập kỷ thứ ba về sau một số rạp mới có ban công và đánh dốc độ sàn để hàng ghế sau cao hơn hành ghế trước, và bố trí lệch ghế để người ngồi sau ở khảng cách giữa hai người ngồi trước. Rạp nào cũng có quạt máy. Và, căn cứ vào trang bị của phòng khán giả, các rạp được chia thành 2 loại: rạp hạng sang và rạp bình dân. Ví như ở Hà Nội: rạp Ma-giét-tích (Majestic), trên gác dành cho người Pháp và viên chức cao cấp quan lại người Việt, tầng trệt gác dành cho khán giả thuộc tầng lớp thượng lưu; còn các rạp Tông-ki-noa (Tonkinois), Ô-lim-pi-a (Olympia), Phi-hác-mô-nich (Phiharmonique)…dành cho khán giả bình dân chủ yếu là học sinh, sinh viên, thanh niên. Số đông các rạp bình dân có xếp một số ghế băng ở phía sau màn ảnh (từ 5 đến 10 ghế băng – tuỳ diện tích khoảng trống từ tường tới màn ảnh) với giá rẻ, chỉ bằng 1/3 hoặc 1/4 giá vé hạng nhất, chủ yếu dành cho trẻ con, Nhìn từ phía sau màn ảnh, chữ tóm tắt nội dung các hìh ảnh đoạn phim sắp được chiếu hoặc hàng chữ phụ đề phía dưới khuôn hình màn ảnh bằng tiếng PHáp màn bị ngược không trở ngại gì cho đám con trẻ, còn nhìn tay trái thành tay phải khi nhân vật trong phim cầm súng, cầm dao, cầm bút, kéo đàn…lại thấy ngồ ngộ, làm cho chúng thích thú, reo hò.Nhiều rạp còn mở buổi chiếu vào các buổi sang – mà thường quen gọi là buổi ma-ti-nê (matiné)-cho học sinh với giá vé chỉ bằng 1/2 giá vé hạng nhất chiếu vào buổi tối.
Khán giả của loại rạp bình dân, ngoài học sinh, là những cồn chức được xem “phim nói”. Tuy vậy, chỉ giới công chức, tri thức, sinh viên, học sinh trung học mới nghe được tiếng Pháp và đọc được các phụ đề chữ Pháp.
Một trong những phim nói được chiếu ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng – những nơi bao giờ cũng được xem phim mới trước nhất – là phim Phía tây không có gì lạ, được cải biên từ cuối tiểu thuyết cùng tên nổi tiếng của nhà văn Rơ – mác (Remart).
Sau 10 năm (1919 – 1928) khắc phục hậu quả tài chính, kinh tế sa sút do bị bòn rút để phục vụ cho nước Pháp tiến hành chiến tranh – trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất – Việt Nam hồi phục nhanh và phát triển về kinh tế đạt tới mức thịnh vào các năm 1936 – 1939.
Trong tình hình ấy các nhà tư sản Pháp kinh doanh phim và chiếu bóng đã bỏ vốn xây thêm nhiều rạp ỏ Việt Nam. Đến năm 1939, số lượng rạp chiếu bóng đã nhiều gấp hơn 2 lần con số 33 rạp vào năm 1927; khoảng trên 60 rạp – xấp xỉ 70 rạp (gấp 10 lần số lượng rạp ở Lào, và gấp 7 lần số lượng rạp ở Campuchia). Do vậy, cũng theo số liệu năm 1939, ở Hà Nội (7 rạp), cứ 35.700 người dân nội thành có 1 rạp; còn ở toàn khu vực đô thị lướn ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định (14 rạp) là 89.300 người dân cả nội và ngoại thành/1 rạp.
Từ nửa sau thập kỷ thứ hai đến cuối thập kỷ thứ ba thế kỷ XX quân đội PHáp chiếm đóng thuộc địa Việt Nam cũng được xem phim nhiều hơn trước. Tại các khu doanh trại cỡ lớn, khu điều dưỡng của sĩ quan và binh lính, các điểm nghỉ mát dành riêng ccho quân đội đều có lắp đặt máy chiếu phim cố định. Còn đối với các đơn vị đồng trú ở biên giới và các đơn vĩ cỡ tiểu đoàn, đại đội đồn trú ở miền núi, hải đoả, thì Bộ tư lệnh quân chiếm đóng thuộc địa hợp đồng thuê công ty Phim và chiếu bóng Đông Dương và công ty Chiếu bóng Đông Dương theo định kỳ, do 2 bên thoả thuận, cử người mang máy và phim đến chiếu tại chỗ.
Giới doanh nhân người Việt bấy giờ cũng đã bát đầu quan tâm đén việc kinh doanh ở lĩnh vực chiếu bóng. Một ngừoi trong số đó là nhà tư sản Vạn Xuân: Khoảng năm 1936 ông đã bỏ tiền xây dựng rạp Ô-lim-pi-a (Olympia) ở phố Hàng Da, Hà Nội (nay là nhà hát Hồng Hà).
Những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945) số lượng rạp chiếu bóng ở Việt Nam tuy không tăng nhưng cũng không giảm song hoạt động cầm chừng. Giao thông vận tải bằng đường biển bị phát xít Đức và Nhật Bản phong toả, gây nhiều trở ngại – do chiến tranh diễn ra trên phạm vi rộng, ảnh huonwgr lướn tớ sẹ vận chuyển phim mới từ nước Pháp sang. Mậc khác công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương cũng không muốn bỏ thêm vốn để nhập phim mới, khi mà không khí chiến tranh đã tác động làm giảm dần số lượng người xem chiếu bóng. Đó là chưa kể tới sự xuất hiện của phim NHật bản, kẻ trên thực tế đã cướp Đông Dương từ tay nước Pháp. Một trong những phim Nhật Bản sớm được chiếu ở Việt Nam là Bản giao hưởng đồng nội (Symphonic Phastorale).
Một số chủ rạp người Pháp không trực thuộc 2 công ty kể trên đã bán lại rạp cho những người Hoa sinh sống ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Hà Nội.
Tình trạng các phim cũ được chiếu đi chiếu lại nhiều lần thường xuyên diễn ra ại các rạp chiếu bóng trong những năm đầu thập kỷ thứ tư thế kỷ XX.
Cũng chính vào những năm ấy công ty Chiếu bóng Đông Dương và công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương đãc phải khắc phục tình trạng khan hiểm phim mới bang cách mua từng đống phim đã qua khai thác tại Hương Cảng (Hồng Kông ngày nay) và Xanh-ga-po, để khai thác lại. Kinh doanh kiểu này có phần khá hơn là công ty Chiếu bóng Đông Dương, do người của công ty này nghĩ ra cách làm phụ đề tiếng Việt diễn giải nội dung phim. Cách làm là phong theo phương pháp chiếu những tấm kinh quảng cáo, người làm nghề thời ấy gọi là chiếu Cơ-li-xê (Cliché), chứ không phải in phụ đề lên các khuyên hình trên bản phim nhựa như ngày nay.
I.3.2 Những bộ phim do người Phấp thực hiện tại Việt Nam từ năm 1924 đến năm 1938
Chỉ vài tháng sau ngày thànhlập (11-9-1923) công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương đã bắt đầu triển khai việc tổ chức sản xuất phim tại Việt Nam.
Số lượng phim do người Pháp thực hiện tại Việt Nam hồi ấy không nhiều. Cho tới ngày nay, qua các báo sách và tài liệu lưu trữ người ta ghi lại được thì không quá 10 đầu phim – kể cả các loại hình phim phóng sự, tài liệu và phim truyện. Đó là phim phóng sự, tài liệu Hồi Kiếp Bạc, Phpong cảnh tại kinh đô Huế, Đám ma bà Thiếu Hoàng, Bé Tý, Cô gái Bắc Kỳ…; và các phim truyện Vân Kiều, Tư Phú, Huyền Thoại Bà Đế.
Với phim phóng sự, tài liệu, nhà sản xuất và các tác giả phim chú ý các đề tài về sinh hoạt văn hoá- lễ hội (Hội Kiếp Bạc), phong tục tập quán (Đám ma bà Thiếu Hoàng), danh lam thắng cảnh (Phong cảnh tại kinh đô Huế), và về các nhân vật liệt vào hạng “thời thượng” (Bé Tý, Cô gái Bắc Kỳ - tên phim tiếng pháp là Betty, La Tonkinoise), nhằm đánh vào tâm lý hiếu kỳ, chuộng lạ của người xem.
Hội Kiếp Bạc và phong cảnh tại kinh đô Huế là 2 bộ phim ngắn được xếp cùng một chương trình chiếu chung với phim truyện Kim Vân Kiều – tất cả đều do công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương sản uất và quảng cáo về “ một tuần lễ chiếu bóng đặc biệt” với “Chương trình toàn những phim ảnh An Nam”.
Những phim này trước tiên khởi chiếu ở rạp Ca-si-nô (Casino), Sài Gòn, từ ngày 19 tháng 9 năm 1924; rồi gần 1 tháng sau mới được chiếu tại Hà Nội, ở rạp Pa-la-xơ (Palace)-từ ngày 15 đến 21 tháng 10 năm 1924.
Kim Vân Kiều là bộ phim truyện đầu tiên do công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương thực hiện ở Việt Nam. Đề tài của bộ phim này là thi phầm trứ danh của đại văn hào Nguyễn Du. Người Pháp biết đến kiệt tác này qua bản dịch sang tiếng Pháp của nhà văn hoá nổi tiếng thời bấy giờ: ông Nguyễn Văn Vĩnh. Viên quản lý của công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương ngay từ năm 1923 đã lưacj họn và trao bản dịch truyện Kiều cho ông Pôn Ti-ơ-ry (Paul Thierry), người đứng đầu công ty, cải biên thành kịch bản văn học, để dàn dựng thành phim có độ dài 1.500. Phim thực hiện tại Hà Nội và làm hậu kỳ tại Pháp.
Cảnh trí trong phim Kim Vân Kiều đề dựa vào cảnh thật ở xung quanh Hà Nội: Dinh Từ Hải và cảnh quan sân chùa làng Láng; cửa vào nhà mụ Tú Bà chính là cổng Sanh làng Thọ; còn chỗ Thuý Kiều viếng mộ Đạm Tiên là bãi tha ma làng Yên Thái…
Lời quảng cáo phim này được đăng tải trên các báo cho biết:
Hãng Phim Société Indochine Films et Cinemas trình bày : Phim Kim Vân Kiều-truyện cổ An Nam trích từ tiểu thuyết nổi tiếng, quen thuộc của Nguyễn Du. Cải biên và thực hiện do ông A.E.Famechon. Bộ phim Đông Dương đầu tiên được thực hiện với diễn viên, trang trí, phục trang hoàn toàn bản xứ. Diễn xuất do đoàn tuồng của Hãng khai thác sân khấu An Nam Quảng Hạc ở Hà Nội.
Do cách giới thiệu tính danh diễn viên theo kiểu ngành nghệ thuật sân khấu hồi ấy, qua quảng cáo trên báo chí, người hâm mộ đào kép thường không biết họ và chữ đệm, mà chỉ biết tên. Bởi vậy các diễn viên của phim truyện Kim Vân Kiều ngày nay người ta cũng chỉ biết rằng cô Liên trogn vai Kiêu, cô Cương – vai Vân, cô Bảy Tắc – Hoạn Thư, bà Tám Long – Đạm Tiên, bà Ba Nhang – Giác Duyên, Ông Tám Ngân – Thúc Sinh, Ông Nam xế - Vương Ông, ông Hai Giò – Thúc Ông, Ông Tư Lộ - quan Phủ, ông sáu Phú- Từ Hải, ông Cương – Mã Giám Sinh, ông Tín – Vương Quan…
Từ khi dự định của công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương về thực hiện bộ phim Kim Vân Kiều được loan tin trên báo chí, việc làm này đã được dư luật rộng rãi các tầng lớp dân chúng đô thị, nhất là giới trí thức và thanh niên học sinh bàn luận khá sôi nổi. Nhiều tờ báo đăng những bài cổ xuý và bày tỏ hy vọng về sự phát triển môn nghệ thuật mới mẻ và hiện đại này trên sứ sở của mình.
Ông Nguyễn Văn Vĩnh, một người tâm huyết với việc giới thiệu văn hoá Việt Nam sang phương Tây và là người đi đầu trong việc dựng những vở kịch nổi tiếng của Pháp trên sân khấu Việt Nam; từng viết một loạt bài báo khích lệ việc làm phim Kim Vân Kiều. Ông viết:
“Kiều là cái tang chứng người Nam Việt không phải là một giống mọi rợ nên vác loa mà kêu gọi cho thế giới biết rằng nhân laoị này cũng là một nhân loại đây, cũng đáng có một địa vị trong thế giới đây chứ không phải là một nhân loại bề dưới đâu. Mà muốn làm cái việc bố cáo đó thì chi cho bằng dùng một cái cơ quan rất màu nhiều như là cái phép chợp bóng”..
Ông bày tỏ rằng long mong mỏi của mình, với niềm hy vọng:
… “Vì nếu chúng ta đóng nổi tích Kim Vân Kiều cho khéo, theo cái phương pháp nhà nghề chớp bóng là một kỹ nghệ tối tân trong xã hội Âu, Mỹ thì trước nữa chúng ta tỏ được cho người Âu châu biết rang không có điều gì mới cho cái sức hiểu của chúng ta. Sau nữa nếu chúng ta làm được một phim nay, nổi tiếng hiệu Indochine Films để cho khác Cinéma trong thế giới thưởng hức một cuộc vui thi vị đặc biệt, ai nấy phải khen văn chương, khen tư tưởng người Việt Nam, ấy có phải ta cũng làm được một việc quảng cáo chung cho cả nước ta đối với hoàn cầu”..
Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương và đạo diễn phim Kim Vân Kiều quả có con mắt tình đời qua sự lựa chọn đó.
Tác giả đã dung đúng trong việc khai thác truyện phịm từ một kiệt tác trong văn chương Việt Nam.
Những ngày đầu Kim Vân Kiều (dài 55 phút) được trình chiếu số người xem rất đông. Khán giả hiều kỳ nô nức kéo đi xem Kiều hiển hiện bằng xương bằng thịt trên màn ảnh.
Các tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp bấy giờ trước cảnh ấy, đã tâng bốc quá lời về phim Kim Vân Kiều: “ Phim Kim Vân Kiều là một kiệt tác”; “Một sản phẩm ngang tầm những phim Pháp và ngoại quốc”;… “Một sự kiện nghệ thuật khá đặc sắc: nền nghệ thuật Phương Tây và nền nghệ thuật châu Á vừa gặp nhau”…Có những bài báo trong đó đi đôi với cụm từ “Đã thành công lớn” còn đưa ra lời tiền đoán về sự kinh doanh của người Pháp tại Việt Nam bằng việc sản xuất phim sẽ trở lên phát đạt(!)
Những tác giả của những bải báo ấy đã lầm.
Trên thực tế, phim Kim Vân Kiều đã không thành công về mặt sáng tạo nghệ thuật. Dư luận khán giả bà báo chí tiếng Việt chê trách, phê phán nhiều đại loại như: Kiều gì già thế, mà xấu thế?;… “chàng Kim Trọng chằng khác chi một anh chàng “ngốc”; … “vai đóng Từ Hải thì mới lại khả ố nữa, rõ cái mặt một thầy “đội” chơ skhông có cái vẻ chi là một nàh đại tướng”…Và trong Truyện Kiều “tả cảnh trong tiết thành minh rằng “ Dập dỉu tải tử gia nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm:… mà trên màn chớp bóng ta chỉ thấy không quá 10 người! Rồi lại tả cái đoạn Thuý Kiều tặ vẫn bằng cách để cho “Thuý Kiều kông lao mình xuống sông Tiền Đường mà cứ đi từ từ xuống nước, khi nước đến cổ thì đứng lại chết”…
Người xem nhận thấy: “ Những nhân vật và những cảnh (trong phim) không đúng với những nhân vật và cảnh vật đã miêu tả trong Truyện Kiều của nhà đại thi hào Nguyễn Du”.
Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương bị lỗ vốn.
Thất bại của phim Kim Vân Kiều đem lại nỗi thất vọng lớn trong công chúng điện ảnh nước ta thời bấy giờ - những người đâu đáu hy vọng về sự sớm ra đời nền nghệ thuật tại sứ sở của mình.
Tuy thế, Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương không vội nản chí mà vẫn tiếp tục thử tìm vận may trong công việc sản xuất phim. Năm 1925 công ty này vẫn cho ra mắt khácn giả phim truyện hài ngắn tựa đề Tuofou (Tên phim tiếng việt là Tư Phú, còn được gọi là Tư Phú lấy vợ , có độ dài 600m. Phim nhại theo cách diễn xuất của vua hề Sác-lô (Charlot)-tên gọi nhân vật do diễn viên kiêm đạo diễn nổi tiếng thế giới Sác-li Sa-Pơ-lanh (Charlei Chaplin) thủ vai, sau trở thành biệt danh của ông. Đóng vai Tư Phú là một người lai gốc Hoa, tên thật là Lê-ông Chang (Léon Chang). Dư luận báo chí và khán giả bấy giờ cho rằng phim này quá yếu kém về nghệ thuật: “ Nó là một món ăn hổ lốn gồm những món ăn vặt vãnh cóp nhặt trong phim khôi hài ngoại quốc mà dàn cảnh là một anh đầu bếp vụng, nhắm mắt làm liều”.
Bộ phim truyện nhựa thứ hai này của Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương lại đưa ra trình chiếu bộ phim truyện thứ ba: Huyền thoại Bà Đế (Lalégende de Bà Đế) có độ dài 1.000m. Phim phỏng theo một truyền thuyết, theo như truyện kể thì xảy ra dưới thời Lê – Trịnh, tại làng Ngọc Xuyên thuộc Đồ Sơn (Hải Phòng): Cô gái họ Phmạ, tên Đế, 18 tuổi, xinh đẹp, hát hay bị Ông Chúa họ Trịnh dỗ dành, chiếm đoạt rồi bỏ rơi. Nàng bị cha mẹ, họ hàng nghi là hư hỏng bởi thói trăng hoa, bị tội buộc đá dìm xuống biển. KHi đã được giải oan thì nàng đã chết. Dân trong vùng tin là nàng chết thiêng, gọi là Bà Đế và lập miếu thờ.
Phim Huyền thoại Bà Đế do đạo diễn Giooc-giơ Spếch ( Georges Specht) thực hiện theo truyện ngắn Chuyện Bà Đế của Pôn Muy-ni-ê (Paul Munier) sưu tầm truyện này từ khoa tàng văn học dân gian Việt Nam. Hầu hết cảnh quay được thực hiện tại Đồ Sơn. Các diễn viên thể hiện các nhân vật trong phim là những thành viên của Hội Kịch Uẩn Hoa do Nguyễn Hữu Kim sáng lập và làm trưởng ban kịch. Hội này thành lập tại Hà Nội, khoảng năm 1925. Nguyễn Hữu Kim là một thương gia yêu thích hoạt động nghệ thuật. Ông vừa soạn kịch, vừa làm diễn viên. Trong phim Huyền Thoại Bà Đế, Nguyễn Hữu Kim đóng vai chúa Trịnh. Riêng vai Bà Đế, cô gái họ Phạm làng Ngọc Xuyên, là không phải người của Hội Kịch Uẩn Hoa. Mà là cô gái lai Pháp Lê-on Gi-lơ (Léon Gilles).
Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương quảng cáo : “ Đây là bộ phim thuần tuý Việt Nam, do những người Việt Nam đóng, kể về một câu chuyện huyền bí nhưng đầy vẻ hấp dẫn”. Phim này được gửi sang chiếu ở Pháp. Mấy tờ báo Pháp có bài khen ngợi. Nhưng người ta biết, đó là khen vì cái lại vè cảnh trí, con người ở ‘‘xứ thuộc địa” , chứ không phải khen về diễn xuất hay đạo diễn.
Huyền thoại Bà Đế cũng bị lỗ vốn.
Hẳn là vì sự thua lỗ về tài chính của cả 3 phim truyện kể trên lại gặp phải khó khăn lớn do nước Pháp bị ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ra từ năm 1929, cho nên sau đó công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương thôi không làm tiếp phim truyện nào nữa.
Các hãng phim trên đất PHáp cho đến tận giữa thập kỷ thứ ba thế kỷ XX cũng vẫn chưa quan tâm đến việc sang Việt Nam làm phim.
Mãi đến năm 1938 hãng phim Phơ-răng-con Phim (Francol-Film) mới cử đạo diễn, chuyên viên , diễn viên sang Việt Nam làm hai bộ phim truyện hoàn toàn nói tiếng Pháp : Chuyện về một chàng lính thuỷ đánh bộ (le romand’un marsouin) và cô gái lại Đa-li-a (Dalhia la métisse). Các phim này được quay ở vùng Móng Cái, biên giới Việt Trung và với sự công tác của An Nam nghệ sĩ đoàn ( Artistes Annammites Associes) về diễn viên.
Năm sau, 1939, hãng Pa-tê Na-than (Pathé Nathan) của Pháp cử đại diện đến Việt Nam gặp gỡ và thương lượng với An-nam nghệ sĩ đoàn về việc mới người cộng tác về diễn xuất nhằm thực hiện các phim truyện Người chèo thuyền trên vịnh Hạ Long (Le sampanier de la baie d’ Halong) và đồn biên phòng (Poste Frontiere). Nhưng rồi cuộc chiến trnah thế giới lần thứ hai (1939-1945) nổ ra. Chủ hãng phim là Gioóc-giơ Phô-rơ (Georges Faures)- người chủ trì việc triển khai làm phim – bị động viên vào quân đội Pháp. Do vậy những phim ấy không được thực hiện.
Ngày 28 tháng 12 năm 1895, tai tiệm Cà phê lớn ( Grand café) ở đại lộ Ca-pu-xin-nơ (capucines), thủ đô Pa-ri(Paris) của nước Pháp, đãc ó một cuộc trình chiếu phim với máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ (Cinématographe) do nhà hoạt động công nghiệp trẻ tuổi Lu-i Luy-mi-e (Louis Lumiere) thực hiện.
Cuộc trình chiếu đã thành công rực rỡ, được tất cả những người tham dự nhiệt liệt tán thưởng, ca ngợi phát minh “trò chớp bóng hình”. Và ngày hôm ấy, về sau này, được coi là ngày khai sinh của điện ảnh thế giới. Cũng từ đó tên tuổi Lu-i Luy-mi-e luôn gắn với buổi bình mình của lịch sử nên Nghệ thuật Điện ảnh. Các từ ngữ Xi-ne-ma (Cinéma), Xi-nê (Ciné), Ki-nô (Kino)…sau này được khắp thế giới sử dụng đều có người gốc từ tên của loại máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ của L. Luy-mi-e.
L. Luy-mi-e. thành công lớn và thành danh chủ yếu bắt đầu từ chiếc máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ đa tính năng : Nó vừa ghi được hình lên bề mặt phim nhựa, rồi cũng sử dụng chính nó để in từ phim âm bản gốc ra các bản phim chiếu (dương bản), và cũng lại chính nó chiếu được phim lên màn ảnh. Chiếc máy này ưu việt hơn hẳn tất cả những loại máy chiếu hình chuyền động khác hiện diện cùng thời của các nhà sáng chế tại Pháp, Đức, Mỹ , Anh.
Tuy thế, chỉ từ 6 tháng đến 18 tháng sau sự thành công của L.Luy-mi-e với chiếc máy Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ, “ thần tượng” này đã nhanh chóng mờ nhạt dần, bởi tại một số nước ở Châu Âu và ở Mỹ đã xuất hiện những chiếc máy chiếu chuyên dụng (chỉ sử dụng riêng cho việc chiếu phim) hoàn hảo về kỹ thuật và có thể cạnh tranh ngang ngửa với Xi-nê-ma-tô-gơ-ra-phơ như: Bai-ô-gơ-ráp (Bioraph)- Mỹ, Uy-liêm Pơn (William Paul)-Anh, Cơ-rơ-nô-phô-tô-gơ-ra-phơ (Chronophotograph) và Sác-lơ Pa-tê ( Charles Pathé)- Pháp,vv..
Cuộc hành trình đó từ đồi chơi quang học đầu tiên có tên gọi là “ vòng quanh kỳ diệu”-ra đời năm 1825 (Một cái hình đã giấy các-tông đơn giản, mặt trước và mặt sau đều có hình vẽ, khi làm cho các chiếc giấy quay nhanh thì 2 hình ở 2 mặt chồng lên nhau) đến khi điện ảnh được khai sinh chính thức (12-1985) vừa tròn 70 năm.
Sự kiện điện ảnh chính thức ra đời, qua cuộc trình chiếu phim ngày 28-12-1895 tại Pa-ri, nước Pháp, đã dẫn đến sự kết thúc nhanh chóng thời kỳ nó được nghiên cứu và chiếu thử ở trong các phòng thíh nghiệm, và nó mở ra một thời kỳ mới: Thời kỳ tham gia vào đời sống văn hoá tình thần của nhân loại, với sự xuất hiện một loạt buổi chiếu phim công cộng có bán vé thu tiền (từ cuối năm 1896) song song với sự xuất hiện của các cơ sở công nghiệp điện ảnh và các hãng làm phim.
Tại “ cái nôi” của điện ảnh thế giới, nước Pháp, trong “thời kỳ những người mở đường” (1896-1908) – như cách gọi của nhà sử học điện ảnh nổi tiếng thế giới Gioóc Sa-đun (Georges Sadoul) – chói sáng những tên tuổi như Lu-i Luy-mi-e (Louis Lumiere), Sa-đun (Georges Sadoul), Sác-lơ Pa-tê ( Charles Pathé).
Những hãng có các cơ sở công nghiệp điện ảnh không chỉ sản xuất máy chiếu phim, máy quay phim và thiết bị tráng phim, mà đồng thời cũng tự mình tổ chức việc làm phim để bán và cho thuê chiếu thông qua các chi nhánh, đại lý của mìh tại các nước đã có hoạt động chiếu phim.
Sự ra đời hàng loạt những phim có diễn viêcn đóng hay, hấp dẫn người xem vào thời kỳ ấy đã nhanh chóng nâng “trò chớp bóng mua vui chốc lát” lên thành một môn nghệ thuật mới của thời hiện đại – là “nghệ thuật tổng hợp”, “nghệ thuật thứ bảy” như cả thế giới vẫn gọi nó đã hàng trăm năm.
Điện ảnh xuất hiện khi một số nước châu Âu ( Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đảo Nha, Hà Lan, Ý, Đức, Áo…) và nước Mỹ đã đi xâm chiếm được nhiều nước khắc trên thế giới, lấy làm thuộc địa của mình. Thậm chí không hiếm trường hợp thuộc địa bịa sáp nhập thành lành thổ của các đế quốc xâm lược. Điển hình là đế quốc Anh, nước đã từng hãnh diện tuyên bố: “Mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ vương quốc Anh” (!). Sản phẩm điện ảnh (Máy, phim) của nước này sản xuất ra thường sớm được giới tư sản điện ảnh mới hình thành đem tước các thuộc địa để kinh doanh kiếm lời dươci chiêu bài “ khai phá văn minh”.
I.2. Chính quyền cai trị thuộc địa và điện ảnh thuở mới du nhập vào Việt Nam
Do có vị trí chiến lược quan trọng ở vùng Đông Nam châu Á và nằm ven bờ biển Đông thông với Thái Bình Dương, từ nơi đây rất thuận lợi trong hoạt động giao thương với các nước ở ven bờ Ấn Độ Dương, và quan đó tới dược các nước ven bờ Đại Tây Dương, cho nên Việt Nam đã bị một số nước ở Châu Âu sớm phát triển chủ nghĩa tư bản – trong quán trình đi tìm kiếm đánh chiếm thuộc địa quan tâm dòm ngó, tìm cách thôn tính.
Giữa thế kỷ XIX, năm 1858 – vào ngày 1 tháng 9, hạm đội của Pháp và Tây Ban Nha đanghs chiếm bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng).
Đế quốc Pháp nhanh chân hơn các nước là đối thủ cạnh tranh giành thuộc địa ở vùng Đông Nam Á, chiếm trọng ba nước Việt Nam, Ai Lao (Lào), Cao Miên (Campuchia). Riêng đối với Việt Nam, từ đầu năm 1859 đến giữa năm 1867 thực dân Pháp lần lượt chiếm cả 6 tỉnh Nam Kỳ, bao gồm cả quần đảo Côn Lôn (Pháp chiếm lần thứ ba – 28-11-1861), và đơn phương tuyên bố là lãnh đại của Pháp. Tới ngày 6 tháng 6 năm 1884, bằng hiệp ước ký tại Huế với triều đình nhà Nguyễn, đế quốc Pháp hoàn tất việc xâm chiếm toàn bộ đất nước Việt Nam.
Hơn ba năm sau đó, vào ngày 17 tháng 10 năm 1867, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương gồm 5 xứ: Nam kỳ, Trugn Kỳ, Bắc Kỳ (đất nước Việt Nam bị Pháp chia cắt thành 3 kỳ-theo chính sách chia để trị của Pháp), Ai Lao và Cao Miên. Pháp đặt chế độ Toàn quyền Đông Dương để cai trị thống nhất toàn bộ 5 xứ, với các thể chế có sự khác nhau trên danh nghĩa: Nam kỳ là xứ Pháp cai trị trực tiếp theo chế độ thuộc địa; Trung Kỳ và Bắc Kỳ do Pháp thiết lập nền “bảo hộ” nhưng vẫn tồn tại triều đình nhà Nguyễn làm bù nhìn (theo hiệp ước ký kết tại Huế ngày 25 tháng 8 năm 1883).
Từ ấy nước Việt Nam, với tên gọi khi ấy là An Nam, bị xoá tên trên bản đồ thế giới và từ xã hội phong kiến chuyển thành xã hội thuộc địa – nửa phong kiến.
Khi điện ảnh được chính thức khai sinh trên đất Pháp (12-1985), thì đế quốc Pháp thống trị Việt Nam trên phạm vi cả nước 12 năm, nhưng vẫn còn phải đối phó một cách khó khăn với phong trào Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa chống Pháp xâm lăng của nhân dân ta khắp cả 3 miền Bắc, Trung Nam liên tiếp nổ ra. Bởi vậy đi đối với thực thi các chính sách đàn áp khốc liệt và khẩn trương bị khai thác, bóc lột thuộc đia, nhà cầm quyền Pháp cũng thực thi chính sách mị dân.
Du nhập điện ảnh vào thuộc địa Việt Nam, người Pháp quảng cáo dưới chiêu bài “khai hoá văn minh” cho người bản xứ.
Qua báo chí xuất bản tại Sài Gòn cuối những năm 90 thế kỷ XIX, lâu nay các nhà nghiên cứu lịch sử điện ảnh đã được biết rằng điện ảnh du nhập từ Pháp vào Việt Nam khá sớm: Chỉ chưa đầy 3 năm sau buổi trình chiếu phim tại tiệm Cà phê lớn ở Pa-ri ngày 28 tháng 12 năm 1895. Người ta tìm thấy các mẩu quảng cáo về buổi chiếu phim ở Châu Thành – Chợ Lớn, phía trước dinh tổng thổng Chợ Lớn, trên tờ tuần báo Nam Kỳ số 50 (ra ngày 6 tháng 10 năm 1898) và số 51 (ra ngày 13 tháng 10 cùng năm).Thuở ấy người ta gọi buổi chiếu phim là buổi trình diễn “trò chớp bóng”.
Theo quảng cáo về buổi chiếu phim này, ngoài mấy phim thời sự ngắn còn có chiếu bộ phim truyện Yêu tinh râu xanh (Barbe lbeu), bắt đầu từ 20h với giá vé rất đắt:
- Buồng (cabine) 4 chỗ ngồi: 5 đồng (tiền Đông Dương)
- Ghế hạng nhất: 1 đồng/vé
- Ghế hạng nhì: 0,5 đồng/vé
- Ghế hạng ba : 0,3 đồng/vé
Cũng trên tuần báo Nam Kỳ, các số 81 (ra ngày 18 tháng 5 năm 1899) và số 83 (ra ngày 10 tháng 6 năm 1899), người đọc lại thấy có đăng những dòn quảng cáo về các “ cuộc hát hình máy”.
Đó là những thông tin có độ tin cậy cao, đượclaon báo rộng rãi sớm nhất trên tờ báo đầu tiên xuất bản bằng tiếng Pháp tại Sài Gòn cuối thế kỷ thứ XIX, về sự sớm có hoạt động điện ảnh ở Việt Nam.
Những năm sau đó- cho đến khi nổ ra cuộc chían tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) – trên báo chí xuất bản tại Sài Gòn và Hà Nội thời ấy xuất hiện ngày càng nhiều trong mảng quảng cáo những buổi chiếu phim (phim của Pháp và một vài nước khác), do các chủ máy chiếu thực hiện theo kiểu đi chiếu dạo (đi chiếu lưu động), đôi khi cũng do các nhà đương cực của chính quyền cai trị thuộc địa đứng ra tổ chức tại các khách sạn lớn này, nhà hàng lớn nọ, thi thoảng ở cả công sở, nhân các ngày lễ trọng thể hoặc sự kiện chính trị nào đó. Khán giả của các buổi chiếu phim toàn là các quan chức, viên chức người Pháp, các chủ công ty công nghiệp và doanh nghiệp người Pháp. Vác quan chức cấp cao “người bản xứ”. Có những buổi chiếu phim dành riêng cho các đơn vị quân đội Pháp chiếm đóng thuộc địa, do bộ tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương thuê chủ kinh doanh chiếu bóng cử người đem máy, phim đến chiếu ở trong doanh trại. Qua báo chí người ta được biết, cũng có đôi bao trường hợp ngoại lệ : Lâu lâu mới có một vài buổi chiếu phim ở nơi công cộng cho “dân chúng bản xứ” được mua vé vào xem nhân dịp có hội chợ, triển lãm và lễ hội.
Cũng qua những tin vắn, quảng cáo trên báo chí hồi ấy, mà ta được biết :Từ rất sớm đã có người Pháp đến Nam Kỳ quay những mẩu phim thời sự rồi đem chiếu ngay tại “Xứ Nam kỳ thuộc địa”. Đó là ông Lê-ô-pôn Béc-na, người đã quay những hình ảnh phong cảnh, sinh hoạt, sản xuất ở Vùng Sài Gòn- Chợ Lớn-trong đó có những hình ảh về xưởng giấy ở Chợ Lớn ( theo tuần báo Nam Kỳ) só 81, ra ngày 18 tháng 5 năm 1899).
Từ nướ Pháp đến Việt Nam quay phim sớm nhất là Ga-bri-en Vây-rơ (Gabriel Veyre), phóng viên của Hãng Luy-mi-e (Louis Lumiere) và hai trợ lý của ông. Họ quay phim ở Việt Nam gần 8 tháng. Gần cuối chuyến đi này, họ tớ quay phim ở Cam – phu – chia (từ ngày 9 tháng 10 năm 1899 đến ngày 15 tháng 12 năm 1899) rồi trở lại Việt Nam quay tiếp.
Ngày nay, tại kho phim của hãng Luy-mi-e, người ta vẫn còn lưu giữ được những mát phim do nhóm Ga-bri-en Vây-rơ về viên Toàn quyền Pôn đu-me (Paul Doumer) và vợ cùng con gái của ông ta; cảnh quay những sĩ quan, binh lính Pháp và binh lính Việt trong một cuộc diễu binh tại Sài Gòn; hình ảnh binh lính người Việt tập võ; cảnh nông dân Việt Nam phát cỏ khai hoang; những hình ảnh về công nhân người Việt làm việc ở xưởng gạch và bên bỗ tại Hà Nội; làm đường sá ở Sài Gòn, khai thác than đá tại Hòn Gai; cảnh quay quan lại tại triều đình Huế quỳ lạy nhà vui; các cảnh về hội hoa và múa rồng ở Chợ Lớn, đua thuyền ở Sài Gòn; cảnh những người dân phu người Việt khiêng các quan lại Phá và Việt bằng kiệu và võng trên đèo Hải Vân và những cảnh sinh hoạt đời thường của người Việt Nam như ăn cơm, múa, đám tang, hút thuốc phiện… (Viện lưu trữ phim nước Pháp đã in sao 32 cảnh phim có nội dung như trên tặng cho Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam).
Việc du nhập điện ảnh vào Việt Nam diễn ra trong thời gian Pôn đu-me (Paul Doumer) đảm nhận chức toàn quyền Đông Dương ( 2- 1897-3-1902). Pôn đu-me (Paul Doumer) là người thực hiện một cách ráo riết và có hiệu quả cao chủ trương của chính phủ Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa Việt Nam lần thứ nhất (1897 -1913). Ông nổi tiếng và để lại dấu ấn lâu dài với công trình xây dựng hệ thống đường sắt và cây cầu lớn bắc qua song Hồng với công trình mang tên ông (sau này có tên cầu Long Biên)- khánh thành năm 1902 sau 4 năm xây dựng.
Trong những năm có cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918) hoạt động chiếu phim ở Việt Nam được nhà cầm quyền Pháp hưogns vào nội dung: Tuyên truyền ở thuộc địa nước Pháp văn minh, hùng mạnh, giàu có, nhiều thuộc địa..; hỗ trợ cho cuộc tuyên truyền chiến thắng của Pháp và bắt lính thuộc địa đưa sáng Pháp để bảo vệ “ mẫu quốc”. Thực dân Pháp cũng giật dây chính phủ Nam triều nhà Nguyễn mở cuộc vận động “ Rồng Nam phun bạc” để vơ vét tài sản của nhân dân Việt Nam, cung ứng cho cuộc chiến tranh ấy.
Chiến tranh làm cho nước Pháp hao tổn nhiều về người và của,nên tài chính và kinh tế gặp nhiều khó khăn. Vì thế, ngay từ khi chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn chính quyền cai trị thuộc địa Đông Dương đã toan tính chuyện gia tăng bóc lột thuộc địa khi chuyển snag thời kỳ hậu chiến. Với ý đồ như vậy , năm 1916 viên Toàn quyền Đông Dương An-be Sa-rô (Albert Sarraut) đã yêu cầu Bộ Chiến Tranh (Quốc Phòng) của chính phủ Pháp cử một Đoàn điện ảnh Quân Đội (Mission Cinématographique) sang Đông Dương – chủ yếu là Việt Nam – để quay phim. Đoàn gồm hai người là Tê-tác (Tétard) và Bơ-ruyn (Brun). Họ chỉ quay các phim phóng sự, tài liệu ngắn. 17 trong số 20 phim do họ thực hiện lần ấy là quay ở Việt Nam, có các nội dung : Phong cảnh đất nước, con người An Nam – tức Việt Nam ngày nay – qua các cảnh quay tại Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Bắc Cạn, sông Hương, sông Cửu Long; một số bản làng, ngừoi dân tộc thiểu số…); các cơ sở kinh tế (các đồn điền cao su và mía, xưởng sản xuất thuốc lá, trường dạy nghề gốm, mộc, đúc ở Biên Hoà); về văn hoá của “dân bản xứ” (tế Đàn Nam Giao, các lăng tẩm vua nhà Nguyễn ở Huế, sinh hoạt trong cung đình Nam triều – Huế, kiến trúc ở Bắc Kỳ),vv…Tất nhiên là những cảnh quay của những của các phim ấy sau khi thu hình đều được đem về Pari in tráng,làm hậu kỹ và nhân bản đển chiếu ở Pháp, nhằm giới thiệu thuộc địa này cho các nhà chức trách, kỹ nghệ gia, doanh nhân và dân chúng Pháp, qua đó kêu gọi đầu tư khai thác thuộc địa Đông Dương đặng góp phần khôi phục nền kinh tế của “mẫu quốc” sau chiến tranh.
Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc vào ngày 11-11-1918.Pháp là nước thuộc địa phe giành thắng lợi của quân đội Pháp.
Có một bộ phim phóng sự do người Pháp thực hiện về đề tài Việt Nam đã một thời gây ra sự bất bình lớn trong nhiều giới, nhiều tầng lớp nhân dân đất nước này. Bộ phim mang tựa đề Khải Định, vua An Nam. Phim được làm nhân chuyến đi hội chợ Mácxây (Marseille) và thăm thú nước pháp trong hai tháng 7 và 8. Nơi ấy là thành phố cảng lớn hàng đầu ở Châu Âu bấy giờ.
Nhà báo lão thành, nà văn Nguyễn Khắc Hanh có lần nhân nhắc đến bộ phim Khải Định, vua An Nam đã kể về cách thức của tác giả phim thể hiện ông vua này:
... “Một hình vòng tròn to như cái nong, gần kín cả phòng màn ảnh.Bên trong hình cái nong là rồng cuốn, mây bay, hoa văn viền quanh...Người xem chưa hiểu ra thế nào, thì ống kinh lùi dần ra xa, lúc đó mọi người mới nhận ra đó là mũi của một cái hia. Ống kính nâng lên đến cổ một đôi hia, chiếc quần trẳng xỏ vào trong cổ hia. Đến lúc này mọi người đã đoán được là một người nào đó đang đứng cho họ quay phim. Trên cổ hia và một phầnống quần là chiếc áo. Lại hình rồng bay, phượng múa, gấm hoa, châu ngọc. “Đúng là ông vua của mình rồi”-trong rạp có tiếng bật lên. Ống kính cứ nâng dần lên tới bụng, ngực , rồi cổ. Người xem hồi hộp. Vừa lúc ấy hiện ra gương mặt vua Khải Định. Trong rạp nhiều tiếng ồ lên..
Hình như ông ta như đánh phấn, thoa son, mặt choắt, gày gò, má lại hồng, nom hề lắm. Ông ta đội nón, trên có chóp nhọn, chắc là nón làm bằng vàng...”
Nhà báo Nguyễn Khắc Hanh đoán chừng đoạn phim này đã được thu hình khi vua Khải Định sang Pháp (dự hội chợ Mác-xây).Cùng đi với vua, có hoàng tử Bảo Đại và một số hoàng thân, thượng thư. “Hình như theo yêu cầu của Pháp, nhà vua tổi chức thiết triều theo nghi lễ Hoàng gia An Nam”
Về những bộ phim phóng sự, tài liệu người Pháp làm về đề tài Việt Nam theo cách nhìn của bọn thực dân đối với dân ta hồi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhận xét khái quát qua lời kể lại trong bài nói chuyện của người tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ ba:
“Hồi đó chỉ có chiều bóng câm, bọn thực dân Pháp dùng chiếu bóng để bôi nhọ dân ta. Thí dụ : Trong hội chợ ở Mác – xây, ngoài những tranh vẽ kể công khanh Việt Nam lúc nhúc lạy quỳ trước Vua bù nhìn cùng chó ngao, toàn quyền, khâm sứ, ngàoi những công nhân trần trịu kéo xe thuê, còn có chiếu bóng mà trong phim có những bà già ăn trầu răng đen, những nông dân gày gò rách rưới, những người đáng khố đang trèo dừa. Chùng gọi đó là “ hình ảnh An Nam”.
I.3 Người Pháp kinh doanh điện ảnh tại Việt Nam
I.3.1. Rạp chiếu bóng ra đời.
Từ đầu thập kỷ thứ nhất thế kỷ XX, trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 -1918), chiếu bóng đã không còn xa lạ với dân cư các đô thị lớn ở Việt Nam.Hàng chục đầu máy chiếu phim mỗi đêm chiếu ở những địa điểm khác nhau, thu hút khá đông giới trí thức và giới trung lưu sinh sống ở các đô thị lớn. Một số chủ máy đã này ra ý định tạo nên những điểm chiếu phim cố định: mở các rạp chiếu bóng. Song họ chưa kịp thực hiện ý định của mình thì nổ ra chiến tranh thế giới thứ nhất. Nước Pháp tham gia cuộc chiến giành thuộc địa trên qui mô lớn này. Chiến tranh không lan đến thuộc địa Đông Dương của Pháp. Tuy thế của cải, tài nguyên và cả nhân lực của nước này đều được huy động đến mức tối đa phục vụ vho nước Pháp tiến hnàh chiến tranh kể cả việc bắt trai tháng đi lính sang Pháp chiến đấu ở ngoài mặc trận bên cạnh “quân đội chính quốc”. Trước tình hình dó các nhà tư sản điện ảnh Pháp chưa vội bỏ vốn xây dựng các rạp chiếu bóng ở Việt Nam.
Sau chiến tranh, “ mẫu quốc”- như đế quốc PHáp vẫn tự xưng – bắt đầu gia tăng mạnh mẽ công cuộc khai thác thuộc địa nhằm nhanh chóng khắc phục tình trạng kiệt quệ kinh tế, tài chính của mình. Việt Nam trở thành một trong nhữnh mảnh đất màu mỡ đối với các nhà tư sản Pháp kinh doanh phim điện ảnh.Những rạp chiếu bóng bắt đầu xây dựng tại Hà Nội, Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi tiếp đó là các khu đô thị khác.
Ở Hà Nội, rạp Anh em nhà Pa-tê ( Phathé Frères) tại mảnh đấtbãi cỏ cạnh đền Bà Kiệu, gần hồ Hoàn Kiếm, khánh thành ngày 10 tháng 8 năm 1920 – theo thông tin trên tờ Thực nghiệp dân báo, số ra cùng ngày. Trên báo này viết:
Rạp chớp ảnh Pathé (bên cạnh đền Bà Kiệu)
Tối nào cũng chpứ từ 9 giờ đến 11 giờ.
Thứ năm, chủ nhật chớp từ 5 giờ đến 7 giờ.
Nên cho trẻ con xem.
Hạng nào cũng có quạt máy.
Sang năm 1921, ngày 12 tháng 6, Hà Nội có them rạp Người Bắc Kỳ ( Le Tonkinois) ở phấp Hàng Quạt, có biển đề Cinéma Tonkinois. Mấy rạp khách cũng được khải trương sớm ở hà Nội là:
Rạp Pa-la-xơ (Palace) ở phố Pôn Be (Paul Bert), sau này là phố Tràng Tiền*
Rạp Pha-mi-li (Family) ở phố Hàng Buồm có bề ngang rất hẹp và bề dài thì sâu hun hút vào phía trong, thành kiểu hình nhà ống. Để có đủ diện tích tại dựng một cái rạp chiếu bóng ở nơi này những chủ rạp mua hai ngôi liền nau, phá tường ngăn đi. Màn ảnh trẻo ở phía trong. Phía ngoài, giáp hè phố, là cửa vào và một căn phòng nhỏ hẹp dùng làm nơi bán vé.
Ở Sài Gòn và Chợ Lớn đến giữa thập kỷ thứ hai thế kỷ XX, đã có 8 rạp chiếu bóng, trong đó Ca-xi-no (Casino) – xây dựng từ trước năm 1924-được coi là bề thế nhất vào thời gian đó.
Thoạt đầu tất cả các rạp đều do người Pháp đứng tên làm chủ kinh doanh. Giữa những năm 20 thế kỷ XX mới có vài rạp do người Hoa làm chủ như Sán – tài – lục ở Chợ Lớn. A Sam- sau đó có tên là Đa – Kao-ở Sài Gòn và Pha-mi-li ỏ Hàng Buồm – Hà Nội.
Phim chiếu tại các rạp khi ấy hầu hết là phim của Pháp. Ngoài ra có một số lượng rất ít la phim của các nước Mỹ, Anh, I-ta-li-a…
Việc nhập khẩu phìm vào Việt Nam nói riêng, vào toàn Đông Dương nói chung, và phân phối phim cho các rạp chiếu đều do các nhà tư sản công nghiệp điện ảnh người Pháp nắm giữ.
Đến năm 1927, theo niên giám thống kê kinh tế Đông Dương, trên cả nước Việt Nam đã có 33 rạp chiếu bóng, phân bố như sau:
Ở Bắc Kỳ cơ 10 rạp (Hà Nội – 4 , Hải Phòng -2, Nam Định-1, Thái Nguyên-1, Lào Cai-1, Cao Bằng-1).
Ở Trung Kỳ có 7 rạp ( Huế -2, Đà Nẵng-2, Nha Trang-1, Nghệ An-1, Hà Tĩnh-1).
Ở Nam Kỳ có 16 rạp (Sài Gòn-4, Chợ Lớn-4, Gia Định -1. Cần Thơ-2, Mỹ Tho-1, Bến Tre-1, Sóc Trăng-1, Bạc Liêu-1, Thượng Đồng Nai hay là Lâm Đồng-1).
Trên cơ sở phần lớn trong số lượng rạp kể trên được gom thành một mối phân phối và khai thác, kinh doanh phim, một công ty chuyên kinh doanh ở lĩnh vực này, với số vốn ban đầu 3 triệu 200 nghìn đồng Phơrăng (tiền Pháp), đã được thành lập tại Việt Nam ngày 11 tháng 9 năm 1927; công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương (Société Indochine Films et Cinemas – Viết tắt là IFFC). Trụ sở chính của công ty đặt ở Sài Gòn. Công ty này của người PHáp không chỉ độc quyền kinh doanh phim khai thác phim nhập khẩu tại các rạp của mình), mà còn được quyền kinh doanh phim nhập khẩu (cho các rạp thuê phim để chiếu, đồng thời trực tiếp khai thác phim nhập khẩu tại các rạp của mình), mà còn được quyền tổ chức sản xuất phim tại bán đảo Đông Dương.
7 năm sau đó, 1930, cũng cở Sài Gòn, lại ra đời một công ty kinh doanh phim và chiếu bóng có tên là công ty Chiếu Bóng Đông Dương (Société des Ciné Théatres d’Indochine – viết tắt là SCTI), thường được gọi khi giao dịch với cái tên rút gọi là Xi-nê-In-do (Ciné Indo). Chủ công ty này là người Pháp gốc Do Thái vốn có mặt ở Sài Gòn, Chợ Lớn từ những năm đầu điện ảnh du nhập Việt Nam, lập nghiệp bằng nghề chiếu bóng dạo (lưu động), rồi sau làm ăn phát đạt, làm chủ một số rạp chiếu bóng ở Việt Nam, Lào, Campuchia.
Hầu hết các rạp chiếu bóng ở Đông Dương bấy giờ là tài sản của hai công ty kể trên.Một số ít rạp khác, phần lớn là người Pháp và mấy người Hoa làm chủ để thuê phim của 2 công ty ấy.
Trước thập kỷ thứ ba thế kỷ XX mỗi rạp chỉ lắp đặt 1 máy chiếu phim. Khi chiếu hết một cuộn phim thì các đèn trong rạp lại bật sang vào thời gian thợ máy chiếu thay cuốn phim mới khác, rồi chiếu tiếp. Màn ảnh làm bằng những đoạn vải trẳng may lối liền nhau, xung quanh viền vải xanh thẫm hoặc vải đen. Khán giả ngồi trên các ghế tựa bằng gỗ ( loại sang) và ghế băng gỗ có vải đen. Sàn của phòng chiếu bằng phẳng, cho nên để tránh cảnh người ngồi sau nhìn vướng đầu người ngồi đằng trước người tat reo màn ảnh cao, khiến mọi người đều phải ngửa cổ lên nhìn, thành ra luôn bị mỏi cổ. Từ nửa cuối thập kỷ thứ ba về sau một số rạp mới có ban công và đánh dốc độ sàn để hàng ghế sau cao hơn hành ghế trước, và bố trí lệch ghế để người ngồi sau ở khảng cách giữa hai người ngồi trước. Rạp nào cũng có quạt máy. Và, căn cứ vào trang bị của phòng khán giả, các rạp được chia thành 2 loại: rạp hạng sang và rạp bình dân. Ví như ở Hà Nội: rạp Ma-giét-tích (Majestic), trên gác dành cho người Pháp và viên chức cao cấp quan lại người Việt, tầng trệt gác dành cho khán giả thuộc tầng lớp thượng lưu; còn các rạp Tông-ki-noa (Tonkinois), Ô-lim-pi-a (Olympia), Phi-hác-mô-nich (Phiharmonique)…dành cho khán giả bình dân chủ yếu là học sinh, sinh viên, thanh niên. Số đông các rạp bình dân có xếp một số ghế băng ở phía sau màn ảnh (từ 5 đến 10 ghế băng – tuỳ diện tích khoảng trống từ tường tới màn ảnh) với giá rẻ, chỉ bằng 1/3 hoặc 1/4 giá vé hạng nhất, chủ yếu dành cho trẻ con, Nhìn từ phía sau màn ảnh, chữ tóm tắt nội dung các hìh ảnh đoạn phim sắp được chiếu hoặc hàng chữ phụ đề phía dưới khuôn hình màn ảnh bằng tiếng PHáp màn bị ngược không trở ngại gì cho đám con trẻ, còn nhìn tay trái thành tay phải khi nhân vật trong phim cầm súng, cầm dao, cầm bút, kéo đàn…lại thấy ngồ ngộ, làm cho chúng thích thú, reo hò.Nhiều rạp còn mở buổi chiếu vào các buổi sang – mà thường quen gọi là buổi ma-ti-nê (matiné)-cho học sinh với giá vé chỉ bằng 1/2 giá vé hạng nhất chiếu vào buổi tối.
Khán giả của loại rạp bình dân, ngoài học sinh, là những cồn chức được xem “phim nói”. Tuy vậy, chỉ giới công chức, tri thức, sinh viên, học sinh trung học mới nghe được tiếng Pháp và đọc được các phụ đề chữ Pháp.
Một trong những phim nói được chiếu ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng – những nơi bao giờ cũng được xem phim mới trước nhất – là phim Phía tây không có gì lạ, được cải biên từ cuối tiểu thuyết cùng tên nổi tiếng của nhà văn Rơ – mác (Remart).
Sau 10 năm (1919 – 1928) khắc phục hậu quả tài chính, kinh tế sa sút do bị bòn rút để phục vụ cho nước Pháp tiến hành chiến tranh – trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất – Việt Nam hồi phục nhanh và phát triển về kinh tế đạt tới mức thịnh vào các năm 1936 – 1939.
Trong tình hình ấy các nhà tư sản Pháp kinh doanh phim và chiếu bóng đã bỏ vốn xây thêm nhiều rạp ỏ Việt Nam. Đến năm 1939, số lượng rạp chiếu bóng đã nhiều gấp hơn 2 lần con số 33 rạp vào năm 1927; khoảng trên 60 rạp – xấp xỉ 70 rạp (gấp 10 lần số lượng rạp ở Lào, và gấp 7 lần số lượng rạp ở Campuchia). Do vậy, cũng theo số liệu năm 1939, ở Hà Nội (7 rạp), cứ 35.700 người dân nội thành có 1 rạp; còn ở toàn khu vực đô thị lướn ở Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định (14 rạp) là 89.300 người dân cả nội và ngoại thành/1 rạp.
Từ nửa sau thập kỷ thứ hai đến cuối thập kỷ thứ ba thế kỷ XX quân đội PHáp chiếm đóng thuộc địa Việt Nam cũng được xem phim nhiều hơn trước. Tại các khu doanh trại cỡ lớn, khu điều dưỡng của sĩ quan và binh lính, các điểm nghỉ mát dành riêng ccho quân đội đều có lắp đặt máy chiếu phim cố định. Còn đối với các đơn vị đồng trú ở biên giới và các đơn vĩ cỡ tiểu đoàn, đại đội đồn trú ở miền núi, hải đoả, thì Bộ tư lệnh quân chiếm đóng thuộc địa hợp đồng thuê công ty Phim và chiếu bóng Đông Dương và công ty Chiếu bóng Đông Dương theo định kỳ, do 2 bên thoả thuận, cử người mang máy và phim đến chiếu tại chỗ.
Giới doanh nhân người Việt bấy giờ cũng đã bát đầu quan tâm đén việc kinh doanh ở lĩnh vực chiếu bóng. Một ngừoi trong số đó là nhà tư sản Vạn Xuân: Khoảng năm 1936 ông đã bỏ tiền xây dựng rạp Ô-lim-pi-a (Olympia) ở phố Hàng Da, Hà Nội (nay là nhà hát Hồng Hà).
Những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939 – 1945) số lượng rạp chiếu bóng ở Việt Nam tuy không tăng nhưng cũng không giảm song hoạt động cầm chừng. Giao thông vận tải bằng đường biển bị phát xít Đức và Nhật Bản phong toả, gây nhiều trở ngại – do chiến tranh diễn ra trên phạm vi rộng, ảnh huonwgr lướn tớ sẹ vận chuyển phim mới từ nước Pháp sang. Mậc khác công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương cũng không muốn bỏ thêm vốn để nhập phim mới, khi mà không khí chiến tranh đã tác động làm giảm dần số lượng người xem chiếu bóng. Đó là chưa kể tới sự xuất hiện của phim NHật bản, kẻ trên thực tế đã cướp Đông Dương từ tay nước Pháp. Một trong những phim Nhật Bản sớm được chiếu ở Việt Nam là Bản giao hưởng đồng nội (Symphonic Phastorale).
Một số chủ rạp người Pháp không trực thuộc 2 công ty kể trên đã bán lại rạp cho những người Hoa sinh sống ở Sài Gòn, Chợ Lớn và Hà Nội.
Tình trạng các phim cũ được chiếu đi chiếu lại nhiều lần thường xuyên diễn ra ại các rạp chiếu bóng trong những năm đầu thập kỷ thứ tư thế kỷ XX.
Cũng chính vào những năm ấy công ty Chiếu bóng Đông Dương và công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương đãc phải khắc phục tình trạng khan hiểm phim mới bang cách mua từng đống phim đã qua khai thác tại Hương Cảng (Hồng Kông ngày nay) và Xanh-ga-po, để khai thác lại. Kinh doanh kiểu này có phần khá hơn là công ty Chiếu bóng Đông Dương, do người của công ty này nghĩ ra cách làm phụ đề tiếng Việt diễn giải nội dung phim. Cách làm là phong theo phương pháp chiếu những tấm kinh quảng cáo, người làm nghề thời ấy gọi là chiếu Cơ-li-xê (Cliché), chứ không phải in phụ đề lên các khuyên hình trên bản phim nhựa như ngày nay.
I.3.2 Những bộ phim do người Phấp thực hiện tại Việt Nam từ năm 1924 đến năm 1938
Chỉ vài tháng sau ngày thànhlập (11-9-1923) công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương đã bắt đầu triển khai việc tổ chức sản xuất phim tại Việt Nam.
Số lượng phim do người Pháp thực hiện tại Việt Nam hồi ấy không nhiều. Cho tới ngày nay, qua các báo sách và tài liệu lưu trữ người ta ghi lại được thì không quá 10 đầu phim – kể cả các loại hình phim phóng sự, tài liệu và phim truyện. Đó là phim phóng sự, tài liệu Hồi Kiếp Bạc, Phpong cảnh tại kinh đô Huế, Đám ma bà Thiếu Hoàng, Bé Tý, Cô gái Bắc Kỳ…; và các phim truyện Vân Kiều, Tư Phú, Huyền Thoại Bà Đế.
Với phim phóng sự, tài liệu, nhà sản xuất và các tác giả phim chú ý các đề tài về sinh hoạt văn hoá- lễ hội (Hội Kiếp Bạc), phong tục tập quán (Đám ma bà Thiếu Hoàng), danh lam thắng cảnh (Phong cảnh tại kinh đô Huế), và về các nhân vật liệt vào hạng “thời thượng” (Bé Tý, Cô gái Bắc Kỳ - tên phim tiếng pháp là Betty, La Tonkinoise), nhằm đánh vào tâm lý hiếu kỳ, chuộng lạ của người xem.
Hội Kiếp Bạc và phong cảnh tại kinh đô Huế là 2 bộ phim ngắn được xếp cùng một chương trình chiếu chung với phim truyện Kim Vân Kiều – tất cả đều do công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương sản uất và quảng cáo về “ một tuần lễ chiếu bóng đặc biệt” với “Chương trình toàn những phim ảnh An Nam”.
Những phim này trước tiên khởi chiếu ở rạp Ca-si-nô (Casino), Sài Gòn, từ ngày 19 tháng 9 năm 1924; rồi gần 1 tháng sau mới được chiếu tại Hà Nội, ở rạp Pa-la-xơ (Palace)-từ ngày 15 đến 21 tháng 10 năm 1924.
Kim Vân Kiều là bộ phim truyện đầu tiên do công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương thực hiện ở Việt Nam. Đề tài của bộ phim này là thi phầm trứ danh của đại văn hào Nguyễn Du. Người Pháp biết đến kiệt tác này qua bản dịch sang tiếng Pháp của nhà văn hoá nổi tiếng thời bấy giờ: ông Nguyễn Văn Vĩnh. Viên quản lý của công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương ngay từ năm 1923 đã lưacj họn và trao bản dịch truyện Kiều cho ông Pôn Ti-ơ-ry (Paul Thierry), người đứng đầu công ty, cải biên thành kịch bản văn học, để dàn dựng thành phim có độ dài 1.500. Phim thực hiện tại Hà Nội và làm hậu kỳ tại Pháp.
Cảnh trí trong phim Kim Vân Kiều đề dựa vào cảnh thật ở xung quanh Hà Nội: Dinh Từ Hải và cảnh quan sân chùa làng Láng; cửa vào nhà mụ Tú Bà chính là cổng Sanh làng Thọ; còn chỗ Thuý Kiều viếng mộ Đạm Tiên là bãi tha ma làng Yên Thái…
Lời quảng cáo phim này được đăng tải trên các báo cho biết:
Hãng Phim Société Indochine Films et Cinemas trình bày : Phim Kim Vân Kiều-truyện cổ An Nam trích từ tiểu thuyết nổi tiếng, quen thuộc của Nguyễn Du. Cải biên và thực hiện do ông A.E.Famechon. Bộ phim Đông Dương đầu tiên được thực hiện với diễn viên, trang trí, phục trang hoàn toàn bản xứ. Diễn xuất do đoàn tuồng của Hãng khai thác sân khấu An Nam Quảng Hạc ở Hà Nội.
Do cách giới thiệu tính danh diễn viên theo kiểu ngành nghệ thuật sân khấu hồi ấy, qua quảng cáo trên báo chí, người hâm mộ đào kép thường không biết họ và chữ đệm, mà chỉ biết tên. Bởi vậy các diễn viên của phim truyện Kim Vân Kiều ngày nay người ta cũng chỉ biết rằng cô Liên trogn vai Kiêu, cô Cương – vai Vân, cô Bảy Tắc – Hoạn Thư, bà Tám Long – Đạm Tiên, bà Ba Nhang – Giác Duyên, Ông Tám Ngân – Thúc Sinh, Ông Nam xế - Vương Ông, ông Hai Giò – Thúc Ông, Ông Tư Lộ - quan Phủ, ông sáu Phú- Từ Hải, ông Cương – Mã Giám Sinh, ông Tín – Vương Quan…
Từ khi dự định của công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương về thực hiện bộ phim Kim Vân Kiều được loan tin trên báo chí, việc làm này đã được dư luật rộng rãi các tầng lớp dân chúng đô thị, nhất là giới trí thức và thanh niên học sinh bàn luận khá sôi nổi. Nhiều tờ báo đăng những bài cổ xuý và bày tỏ hy vọng về sự phát triển môn nghệ thuật mới mẻ và hiện đại này trên sứ sở của mình.
Ông Nguyễn Văn Vĩnh, một người tâm huyết với việc giới thiệu văn hoá Việt Nam sang phương Tây và là người đi đầu trong việc dựng những vở kịch nổi tiếng của Pháp trên sân khấu Việt Nam; từng viết một loạt bài báo khích lệ việc làm phim Kim Vân Kiều. Ông viết:
“Kiều là cái tang chứng người Nam Việt không phải là một giống mọi rợ nên vác loa mà kêu gọi cho thế giới biết rằng nhân laoị này cũng là một nhân loại đây, cũng đáng có một địa vị trong thế giới đây chứ không phải là một nhân loại bề dưới đâu. Mà muốn làm cái việc bố cáo đó thì chi cho bằng dùng một cái cơ quan rất màu nhiều như là cái phép chợp bóng”..
Ông bày tỏ rằng long mong mỏi của mình, với niềm hy vọng:
… “Vì nếu chúng ta đóng nổi tích Kim Vân Kiều cho khéo, theo cái phương pháp nhà nghề chớp bóng là một kỹ nghệ tối tân trong xã hội Âu, Mỹ thì trước nữa chúng ta tỏ được cho người Âu châu biết rang không có điều gì mới cho cái sức hiểu của chúng ta. Sau nữa nếu chúng ta làm được một phim nay, nổi tiếng hiệu Indochine Films để cho khác Cinéma trong thế giới thưởng hức một cuộc vui thi vị đặc biệt, ai nấy phải khen văn chương, khen tư tưởng người Việt Nam, ấy có phải ta cũng làm được một việc quảng cáo chung cho cả nước ta đối với hoàn cầu”..
Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương và đạo diễn phim Kim Vân Kiều quả có con mắt tình đời qua sự lựa chọn đó.
Tác giả đã dung đúng trong việc khai thác truyện phịm từ một kiệt tác trong văn chương Việt Nam.
Những ngày đầu Kim Vân Kiều (dài 55 phút) được trình chiếu số người xem rất đông. Khán giả hiều kỳ nô nức kéo đi xem Kiều hiển hiện bằng xương bằng thịt trên màn ảnh.
Các tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp bấy giờ trước cảnh ấy, đã tâng bốc quá lời về phim Kim Vân Kiều: “ Phim Kim Vân Kiều là một kiệt tác”; “Một sản phẩm ngang tầm những phim Pháp và ngoại quốc”;… “Một sự kiện nghệ thuật khá đặc sắc: nền nghệ thuật Phương Tây và nền nghệ thuật châu Á vừa gặp nhau”…Có những bài báo trong đó đi đôi với cụm từ “Đã thành công lớn” còn đưa ra lời tiền đoán về sự kinh doanh của người Pháp tại Việt Nam bằng việc sản xuất phim sẽ trở lên phát đạt(!)
Những tác giả của những bải báo ấy đã lầm.
Trên thực tế, phim Kim Vân Kiều đã không thành công về mặt sáng tạo nghệ thuật. Dư luận khán giả bà báo chí tiếng Việt chê trách, phê phán nhiều đại loại như: Kiều gì già thế, mà xấu thế?;… “chàng Kim Trọng chằng khác chi một anh chàng “ngốc”; … “vai đóng Từ Hải thì mới lại khả ố nữa, rõ cái mặt một thầy “đội” chơ skhông có cái vẻ chi là một nàh đại tướng”…Và trong Truyện Kiều “tả cảnh trong tiết thành minh rằng “ Dập dỉu tải tử gia nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm:… mà trên màn chớp bóng ta chỉ thấy không quá 10 người! Rồi lại tả cái đoạn Thuý Kiều tặ vẫn bằng cách để cho “Thuý Kiều kông lao mình xuống sông Tiền Đường mà cứ đi từ từ xuống nước, khi nước đến cổ thì đứng lại chết”…
Người xem nhận thấy: “ Những nhân vật và những cảnh (trong phim) không đúng với những nhân vật và cảnh vật đã miêu tả trong Truyện Kiều của nhà đại thi hào Nguyễn Du”.
Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương bị lỗ vốn.
Thất bại của phim Kim Vân Kiều đem lại nỗi thất vọng lớn trong công chúng điện ảnh nước ta thời bấy giờ - những người đâu đáu hy vọng về sự sớm ra đời nền nghệ thuật tại sứ sở của mình.
Tuy thế, Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương không vội nản chí mà vẫn tiếp tục thử tìm vận may trong công việc sản xuất phim. Năm 1925 công ty này vẫn cho ra mắt khácn giả phim truyện hài ngắn tựa đề Tuofou (Tên phim tiếng việt là Tư Phú, còn được gọi là Tư Phú lấy vợ , có độ dài 600m. Phim nhại theo cách diễn xuất của vua hề Sác-lô (Charlot)-tên gọi nhân vật do diễn viên kiêm đạo diễn nổi tiếng thế giới Sác-li Sa-Pơ-lanh (Charlei Chaplin) thủ vai, sau trở thành biệt danh của ông. Đóng vai Tư Phú là một người lai gốc Hoa, tên thật là Lê-ông Chang (Léon Chang). Dư luận báo chí và khán giả bấy giờ cho rằng phim này quá yếu kém về nghệ thuật: “ Nó là một món ăn hổ lốn gồm những món ăn vặt vãnh cóp nhặt trong phim khôi hài ngoại quốc mà dàn cảnh là một anh đầu bếp vụng, nhắm mắt làm liều”.
Bộ phim truyện nhựa thứ hai này của Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương lại đưa ra trình chiếu bộ phim truyện thứ ba: Huyền thoại Bà Đế (Lalégende de Bà Đế) có độ dài 1.000m. Phim phỏng theo một truyền thuyết, theo như truyện kể thì xảy ra dưới thời Lê – Trịnh, tại làng Ngọc Xuyên thuộc Đồ Sơn (Hải Phòng): Cô gái họ Phmạ, tên Đế, 18 tuổi, xinh đẹp, hát hay bị Ông Chúa họ Trịnh dỗ dành, chiếm đoạt rồi bỏ rơi. Nàng bị cha mẹ, họ hàng nghi là hư hỏng bởi thói trăng hoa, bị tội buộc đá dìm xuống biển. KHi đã được giải oan thì nàng đã chết. Dân trong vùng tin là nàng chết thiêng, gọi là Bà Đế và lập miếu thờ.
Phim Huyền thoại Bà Đế do đạo diễn Giooc-giơ Spếch ( Georges Specht) thực hiện theo truyện ngắn Chuyện Bà Đế của Pôn Muy-ni-ê (Paul Munier) sưu tầm truyện này từ khoa tàng văn học dân gian Việt Nam. Hầu hết cảnh quay được thực hiện tại Đồ Sơn. Các diễn viên thể hiện các nhân vật trong phim là những thành viên của Hội Kịch Uẩn Hoa do Nguyễn Hữu Kim sáng lập và làm trưởng ban kịch. Hội này thành lập tại Hà Nội, khoảng năm 1925. Nguyễn Hữu Kim là một thương gia yêu thích hoạt động nghệ thuật. Ông vừa soạn kịch, vừa làm diễn viên. Trong phim Huyền Thoại Bà Đế, Nguyễn Hữu Kim đóng vai chúa Trịnh. Riêng vai Bà Đế, cô gái họ Phạm làng Ngọc Xuyên, là không phải người của Hội Kịch Uẩn Hoa. Mà là cô gái lai Pháp Lê-on Gi-lơ (Léon Gilles).
Công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương quảng cáo : “ Đây là bộ phim thuần tuý Việt Nam, do những người Việt Nam đóng, kể về một câu chuyện huyền bí nhưng đầy vẻ hấp dẫn”. Phim này được gửi sang chiếu ở Pháp. Mấy tờ báo Pháp có bài khen ngợi. Nhưng người ta biết, đó là khen vì cái lại vè cảnh trí, con người ở ‘‘xứ thuộc địa” , chứ không phải khen về diễn xuất hay đạo diễn.
Huyền thoại Bà Đế cũng bị lỗ vốn.
Hẳn là vì sự thua lỗ về tài chính của cả 3 phim truyện kể trên lại gặp phải khó khăn lớn do nước Pháp bị ảnh hưởng nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ra từ năm 1929, cho nên sau đó công ty Phim và Chiếu bóng Đông Dương thôi không làm tiếp phim truyện nào nữa.
Các hãng phim trên đất PHáp cho đến tận giữa thập kỷ thứ ba thế kỷ XX cũng vẫn chưa quan tâm đến việc sang Việt Nam làm phim.
Mãi đến năm 1938 hãng phim Phơ-răng-con Phim (Francol-Film) mới cử đạo diễn, chuyên viên , diễn viên sang Việt Nam làm hai bộ phim truyện hoàn toàn nói tiếng Pháp : Chuyện về một chàng lính thuỷ đánh bộ (le romand’un marsouin) và cô gái lại Đa-li-a (Dalhia la métisse). Các phim này được quay ở vùng Móng Cái, biên giới Việt Trung và với sự công tác của An Nam nghệ sĩ đoàn ( Artistes Annammites Associes) về diễn viên.
Năm sau, 1939, hãng Pa-tê Na-than (Pathé Nathan) của Pháp cử đại diện đến Việt Nam gặp gỡ và thương lượng với An-nam nghệ sĩ đoàn về việc mới người cộng tác về diễn xuất nhằm thực hiện các phim truyện Người chèo thuyền trên vịnh Hạ Long (Le sampanier de la baie d’ Halong) và đồn biên phòng (Poste Frontiere). Nhưng rồi cuộc chiến trnah thế giới lần thứ hai (1939-1945) nổ ra. Chủ hãng phim là Gioóc-giơ Phô-rơ (Georges Faures)- người chủ trì việc triển khai làm phim – bị động viên vào quân đội Pháp. Do vậy những phim ấy không được thực hiện.
+ PHẢN HỒI CỦA BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT:
Các tin khác
Sự kiện phim trường
- Những vụ tự sát chấn động Hollywood – Phần 2
- Người đẹp Hollywood “thất thế”…?
- Rừng Na Uy đại diện cho Nhật Bản tham dự LHP Venice
- "Tân Hoàn Châu Cách Cách" bị fans chê là "quê mùa"
- Nóng 100 độ! Loạt hình đầu tiên của Kim Hyun Joong trong "Thơ Ngây"!
- Nghe Vũ Thu Phương kể chuyện bị đánh trên trường quay
Giới thiệu phim
- "Bản sao của Song Hye Kyo" tung trailer làm xứ Trung "run rẩy"
- "Chàng ăn mày đẹp trai nhất Trung Quốc" sắp lên phim
- Goo Hye Sun bắt đầu cất "tiếng hót" trong phim mới
- "Rừng Na Uy" ra lò trailer cực bắt mắt
- Selena Gomez "khóa môi" cực yêu trong phim mới
- "High School Musical" phiên bản Trung tung trailer nóng bỏng
- Ngưỡng cửa cuộc đời
- Eclipse - Khi tình yêu là phải lựa chọn
- Elly Trần "khoe sắc" trong phim hiphop Việt
- Xem Từ Hy Viên "nhéo tai" hoàng thượng
- Mưa rơi (phim: Người đàn bà yếu đuối)
- Bài ca gió (phim: Chuyện tình đảo ngọc)
- Xin lỗi tình yêu (phim:Xin lỗi tình yêu)
- Em nhớ anh nhiều (phim:Gọi giấc mơ về )
- Dòng thời gian (phim:Mùi ngò gai )
- Chân tình (phim:Lọ lem hè phố )
- Tiếc (phim:Bẫy rồng )
- Dòng Sông Không Trở Lại (phim: Dòng đời )
- Cô gái xấu xí (phim: Cô gái xấu xí )
- Giấc Mơ Tuyết Trắng (phim:Tuyết nhiệt đới )

